Một số bình luận về 10 án lệ được công bố bởi Hội động Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Ngày 06 tháng 04 năm 2016, Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã thông qua 06 án lệ và được công bố theo Quyết định số 220/QĐ-CA ngày 06 tháng 4 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao:

  1. Án lệ số 01/2016/AL được xây dựng trên cơ sở Quyết định giám đốc thẩm số 04/2014/HS-GĐT ngày 16/04/2014 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Giết người” (Án Lệ 01);
  2. Án lệ số 02/2016/AL được xây dựng trên cơ sở Quyết định giám đốc thẩm số 27/2010/DS-GĐT ngày 08-7-2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Tranh chấp đòi lại tài sản” (Án Lệ 02);
  3. Án lệ số 03/2016/AL được xây dựng trên cơ sở Quyết định giám đốc thẩm số 208/2013/DS-GĐT ngày 03-5-2013 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Ly hôn” (Án Lệ 03);
  4. Án lệ số 04/2016/AL được xây dựng trên cơ sở Quyết định giám đốc thẩm số 04/2010/QĐ-HĐTP ngày 03-3-2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” (Án Lệ 04);
  5. Án lệ số 05/2016/AL được xây dựng trên cơ sở Quyết định giám đốc thẩm số 39/2014/DS-GĐT ngày 09-10-2014 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Tranh chấp di sản thừa kế” (Án Lệ 05);
  6. Án lệ số 06/2016/AL được xây dựng trên cơ sở Quyết định giám đốc thẩm số 100/2013/GĐT-DS ngày 12-8-2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Tranh chấp thừa kế” (Án Lệ 06);

def

Các án lệ được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao:

  1. Án lệ số 07/2016/AL được xây dựng trên cơ sở Quyết định giám đốc thẩm số 126/2013/DS-GĐT ngày 23-9-2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án dân sự “Tranh chấp quyền sở hữu, sử dụng nhà” (Án Lệ 07);
  2. Án lệ số 08/2016/AL được xây dựng trên cơ sở Quyết định giám đốc thẩm số 12/2013/KDTM-GĐT ngày 16-5-2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án kinh doanh thương mại “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” (Án Lệ 08);
  3. Án lệ số 09/2016/AL được xây dựng trên cơ sở Quyết định giám đốc thẩm số 07/2013/KDTM-GĐT ngày 15-3-2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án kinh doanh thương mại “Tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa”(Án Lệ 09);
  4. Án lệ số 10/2016/AL được xây dựng trên cơ sở Quyết định giám đốc thẩm số 08/2014/HC-GĐT ngày 19-8-2014 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án hành chính “Khiếu kiện Quyết định bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất” (Án Lệ 10).

Để tìm hiểu chi tiết từng án lệ, các bạn độc giả hãy click link bên dưới:

Một số bình luận về 10 án lệ được công bố bởi Hội đồng Thẩm phán Tóa án nhân dân tối cao

Để xác lập quyền sở hữu đối với nhãn hiệu

Gần đây, dư luận chú ý nhiều đến vụ việc một công ty sản xuất mì gói tuyên bố đang hoàn thành các thủ tục pháp lý để khởi kiện đối thủ về hành vi xâm phạm quyền sở hữu nhãn hiệu (trademark) vì cho rằng đối thủ đã sử dụng bao bì gần giống sản phẩm của mình. Trong một vụ việc khác, hai công ty sữa đang tranh cãi chưa ngã ngũ về việc cùng phát triển các dòng sản phẩm cho trẻ em có chung tên gọi.

Mặc dù các bên đang chờ cơ quan có thẩm quyền phân xử để có kết quả cuối cùng, các vụ việc này cho thấy một thực tế là việc bảo hộ nhãn hiệu, một trong những tài sản quan trọng nhất của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào tham gia sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ, vẫn chưa được các doanh nghiệp chú trọng đúng mức dẫn đến các tranh chấp không cần thiết, thậm chí là bị cáo buộc vi phạm hoặc “mất” nhãn hiệu vào tay của doanh nghiệp khác.

Trong phạm vi bài này, người viết nêu một số điểm quan trọng doanh nghiệp cần lưu ý để có thể thực hiện những bước cần thiết xác lập quyền sở hữu đối với nhãn hiệu, giúp doanh nghiệp giảm thiểu được chi phí pháp lý, và chi phí rủi ro trong quá trình kinh doanh của mình.

Cần có nhận thức đầy đủ về nhãn hiệu

Nếu tên thương mại được dùng để phân biệt các doanh nghiệp với nhau, thì nhãn hiệu được dùng để phân biệt sản phẩm của các doanh nghiệp; do vậy, người ta thường hiểu nhãn hiệu là tên gọi của sản phẩm.

Tuy nhiên, trên phương diện pháp lý nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau (khoản 16 điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT)). Như vậy, nhãn hiệu không chỉ bao gồm chữ cái (tên gọi của sản phẩm), mà còn có thể bao gồm những dấu hiệu có thể nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc (khoản 1 điều 72 Luật SHTT). Với ý nghĩa là tài sản trí tuệ của doanh nghiệp, để được bảo hộ, nhãn hiệu phải có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu với hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp khác, hay nói cách khác nhãn hiệu đó phải có tính đặc trưng giúp cho người tiêu dùng có thể dễ nhận biết và ghi nhớ hàng hóa, dịch của chủ sở hữu đó.

Nguyên tắc bảo hộ nhãn hiệu là bảo hộ tổng thể

Chính vì vậy, khi xây dựng nhãn hiệu, các doanh nghiệp cần chú ý không chỉ các yếu tố cấu thành của nhãn hiệu mà cả ý nghĩa tổng thể của nhãn hiệu đó. Ví dụ trong trường hợp tranh chấp giữa hai công ty sản xuất mì gói, tên gọi của sản phẩm mà bên bị khiếu nại sử dụng tuy khác với tên gọi trong nhãn hiệu đã được đăng ký bảo hộ của bên khiếu nại, nhưng bên khiếu nại cho rằng mẫu bao bì của bên bị khiếu nại có cách trình bày, kiểu chữ, tổ hợp màu sắc tạo thành một tổng thể tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được bảo hộ nên đã xâm phạm quyền sở hữu nhãn hiệu của mình. Quan điểm này của bên khiếu nại đã được cục SHTT ủng hộ.

Để hạn chế trường hợp một bên thứ ba sử dụng một phần nhãn hiệu của mình dẫn đến gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng, khi đăng ký bảo hộ cho một nhãn hiệu, các doanh nghiệp cũng có thể tiến hành đăng ký bảo hộ riêng rẽ cho từng dấu hiệu trong nhãn hiệu nếu chúng đáp ứng các điều kiện về khả năng phân biệt thì mới có thể được bảo hộ.

Trường hợp của nhãn hiệu mỹ phẩm Sắc Ngọc Khang là một ví dụ điển hình. Công ty Hoa Thiên Phú đã đăng ký bảo hộ phần chữ Sắc Ngọc Khang như một nhãn hiệu riêng biệt và được cơ quan có thẩm quyền chấp nhận từ năm 2013. Nhờ vậy, Công ty Hoa Thiên Phú đã có thể yêu cầu Thanh tra Bộ Khoa học Công nghệ tuýt còi Công ty Tân Đại Dương vì sử dụng cụm từ này trên sản phẩm của mình gây ra nhầm lẫn cho người tiêu dùng.

Nộp đơn xin bảo hộ càng sớm càng tốt

Quyền sở hữu đối với nhãn hiệu có thể được xác lập thông qua hai cơ chế là đăng ký với cơ quan có thẩm quyền hoặc tự động xác lập khi đáp ứng một số điều kiện nhất định. Hiện nay, cơ chế tự động chỉ được áp dụng đối với nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Các nhãn hiệu nổi tiếng thường là các nhãn hiệu đã tồn tại lâu đời, được sử dụng rộng rãi trên nhiều quốc gia và được nhiều người biết đến. Chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng không cần phải tiến hành đăng ký bảo hộ đối với nhãn hiệu của mình và có quyền yêu cầu tòa án hoặc cục sở hữu trí tuệ xem xét và công nhận nhãn hiệu nổi tiếng trong từng vụ việc cụ thể, ví dụ như khi phát hiện có doanh nghiệp khác sử dụng nhãn hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu của mình.

Đối với các nhãn hiệu thông thường, quyền sở hữu chỉ được xác lập khi tiến hành đăng ký nhãn hiệu với cục SHTT. Các quy định pháp luật hiện nay về bảo hộ nhãn hiệu áp dụng nguyên tắc nộp đơn đầu tiên, để chấp nhận bảo hộ nhãn hiệu của người đăng ký trước dựa vào ngày nộp đơn. Hay nói cách khác, trong trường hợp có nhiều người nộp đơn khác nhau cùng đăng ký các nhãn hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn, người đăng ký trước sẽ được xem xét cấp văn bằng bảo hộ nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện quy định của pháp luật.

Tại Việt Nam, quá trình đăng ký xác lập quyền sở hữu đối với một nhãn hiệu có thể kéo dài từ 13-18 tháng, trải qua hai giai đoạn chính là xét nghiệm hình thức và xét nghiệm nội dung, trong khi các doanh nghiệp thường không thể đợi cho đến khi xác lập được quyền sở hữu này rồi mới đưa sản phẩm ra thị trường. Do vậy, các doanh nghiệp có thể vận dụng nguyên tắc nộp đơn đầu tiên để đảm bảo việc xác lập quyền của mình bằng cách nộp đơn xin bảo hộ nhãn hiệu vào thời điểm sớm nhất có thể.

Ngoài ra, do Việt Nam là thành viên của Công ước Madrid, pháp luật SHTT Việt Nam cũng áp dụng nguyên tắc quyền ưu tiên. Theo đó, nếu một người đã nộp đơn hợp lệ lần đầu tiên tại một quốc gia thành viên khác của Công ước Madrid về đăng ký nhãn hiệu Quốc tế (CU Madrid) có thể nộp đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu đó tại Việt Nam và đơn nộp sau đó được coi như nộp cùng ngày với đơn đầu tiên. Nguyên tắc này cũng được áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp Việt Nam muốn đăng ký nhãn hiệu tại một quốc gia khác là thành viên của Nghị định thư Madrid.

Tra cứu sơ bộ trước khi quyết định nộp đơn

Quá trình 18 tháng kể từ lúc nộp tờ khai đăng ký nhãn hiệu đến khi có quyết định dự định cấp văn bằng bảo hộ từ Cục SHTT, doanh nghiệp vẫn phải đối mặt với nguy cơ không xác lập được quyền sở hữu nhãn hiệu do không đáp ứng yêu cầu về nội dung (đối tượng nêu trong đơn không đáp ứng các tiêu chuẩn bảo hộ mà luật SHTT quy định). Hồ sơ xin bảo hộ có thể bị từ chối vì nhiều lý do khác nhau (như ký tự không có nghĩa, sử dụng địa danh, tên riêng,…), tuy nhiên nguyên nhân bị từ chối phổ biến là trùng với một nhãn hiệu đã được cấp bảo hộ hoặc được người khác đăng ký.

Công việc tra cứu sơ bộ cần được tiến hành song song với quá trình phát triển sản phẩm, bởi lẽ nó sẽ giúp doanh nghiệp có chiến lược marketing đúng đắn, rút ngắn thời gian đăng ký và tiết kiệm chi phí. Quan trọng hơn hết, việc tra cứu sơ bộ giúp cho doanh nghiệp có thể kịp thời tiến hành đăng ký với cơ quan có thẩm quyền để xác lập quyền của mình theo nguyên tắc nộp đơn đầu tiên.

Lưu ý rằng, nhãn hiệu có thể gồm chữ và hình, doanh nghiệp có thể đăng ký bảo hộ chữ và hình cùng nhau hoặc riêng lẻ, do đó, khi tra cứu, cần phải tra cứu cả phần chữ, phần hình, nhóm sản phẩm sử dụng nhãn hiệu để từ đó có thể xác định được nhãn hiệu đối ứng một cách chính xác.

Bảo hộ nhãn hiệu tại nước ngoài

Quyền sở hữu nhãn hiệu sẽ chỉ được thừa nhận trong phạm vi lãnh thổ quốc gia đăng ký. Nghĩa là nhãn hiệu được bảo hộ tại Việt Nam không đương nhiên được bảo hộ tại thị trường Hoa Kỳ. Trong thời gian qua đã có một số nhãn hiệu Việt Nam bị đăng ký tại nước ngoài khiến cho doanh nghiệp tốn kém không ít chi phí khi muốn mở rộng thị trường. Chi phí đăng ký và duy trì một nhãn hiệu thường không nhiều, do vậy, các doanh nghiệp chủ động lên kế hoạch kinh doanh để đăng ký tại quốc gia nơi dự định xuất khẩu hàng hóa dịch vụ trong tương lai gần.

Hiệu lực của văn bằng bảo hộ

Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu có hiệu lực từ ngày cấp đến hết mười năm kể từ ngày nộp đơn. Chủ sở hữu có thể gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần mười năm. Kể từ thời điểm văn bằng bảo hộ nhãn hiệu được cấp, chủ thể có quyền độc quyền khai thác, sử dụng, định đoạt và ngăn cản bất kỳ bên thứ ba nào sử dụng nhãn hiệu hoặc các dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu đã được đăng ký.

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, theo quy định hiện hành nhãn hiệu không được sử dụng trong thời hạn năm năm liên tục sẽ có thể bị yêu cầu chấm dứt hiệu lực, trừ trường hợp được sử dụng hoặc sử dụng lại trước ít nhất ba tháng tính đến ngày có yêu cầu chấm dứt hiệu lực. Do vậy, doanh nghiệp cần có kế hoạch khai thác nhãn hiệu phù hợp để tránh bị hủy bỏ văn bằng bảo hộ.

Bài viết được đăng bởi Thời báo kinh tế Sài Gòn, người viết: Tiến sĩ Luật Nguyễn Anh Tuấn, luật sư công ty luật LNT & Partners. (Tuan.Nguyen@LNTpartners.com)
Bài viết này chỉ nhằm mục dích cung cấp thông tin. Nội dung nó không mang tính tư vấn pháp lý cho bất kì trường hợp cụ thể nào. Để biết thêm thông tin chi tiết, vui lòng truy cập website: Http://LNTpartners.com.

Người lao động có đang thờ ơ với quyền lợi của mình?

Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động là vấn đề cơ bản và xuyên suốt của Bộ Luật Lao Động. Nhiều nước trên thế giới kể cả Việt Nam đang đặt mục tiêu thúc đẩy bình đẳng trên thị trường lao động, đặc biệt là thúc đẩy sự tham gia của nữ giới trong thành phần lãnh đạo. Tuy nhiên, bình đẳng ở đây liệu có nhất thiết là tuyệt đối quân bình về số lượng? Trong tất cả ngành nghề, liệu có phải ngành nào cũng có cơ hội cho nữ giới?

Chương trình được thực hiện bởi Smart Money, Smart Life – FBNC với sự tham gia trả lời phỏng vấn của ông Trần Thái Bình, luật sư thành viên công ty luật LNT & Partners.

FBNC _ Thúc đẩy bình đẳng giới trong lao động như thế nào là bình đẳng? LNT & Partners

Để tìm hiểu thêm về chương trình xin vui lòng truy cập website http://fbnc.vn/ và http://LNTpartners.com

Vietnam, FDI and the TPP ISDS: a Tentative Look

The Trans-Pacific Partnership Agreement (“TPP”) is a multilateral agreement currently being negotiated that, when finally agreed, will encompass approximately 40% of the worlds GDP under a new generation of multilateral economic governance that is focusing on competition policy, labour rights, international investment law and the harmonization of other areas of law and aimed at boosting trade, investment and economic growth between members, who at the advanced negotiation stage include Japan, the USA, Vietnam, Australia, Singapore, Brunei, Malaysia, New Zealand, Chile and Peru, with Canada and Mexico interested in joining. One of the most controversial aspects of the negotiations is that they are largely being held behind closed doors – with only limited information on draft chapters being released through memorandums, or via the medium of Wikileaks, hence why this short article is a tentative look – a detailed analysis at this stage is not possible until the final draft is released or leaked, which will not be for some time yet. This lack of transparency has helped foster strong opposition to the agreement before even considering the provisions contained within. This article considers some implications of the TPP’s Investor-State Dispute Settlement (“ISDS”) for investors of inward and outward FDI in Vietnam.

Opposing views mean uncertainty for ISDS in TPP

The ISDS provisions of the TPP have both strong support, and strong disapproval. The strong support comes primarily from the Japanese and US governments and firms that see the ISDS as crucial to the success of the TPP, and the need to protect their investment interests particularly in the SE Asian parties to the agreement. On the opposing side, with a particularly vitriol response is Australia, which has undergone a unique policy shift among developed countries and chosen to accommodate anti-ISDS voices, arguing that it ISDS is a threat to domestic rule of law and has an undermining effect on national judiciary systems. In light of this, Australia has become a proponent to abandoning the ISDS mechanism in the TPP. While the inclusion of an ISDS is still highly likely to be included as part of the agreement – with the USA pressuring opponent parties to endorse the ISDS – and arguing that there won’t be a TPP without it, there is still uncertainty around how the final draft of the TPP will be structured.

ISDS could bring new forms of investment to Vietnam

The inclusion of ISDS into the TPP agreement could have the effect further reducing the risk associated with foreign investment, which could encourage companies from developed countries party to the TPP such as those in the US, to engage in “discretionary” outsourcing, this refers to foreign investment that does not require a foreign presence to be successful (while “non-discretionary” investment outsourcing refers to investment that requires outsourcing to a foreign jurisdiction to be financially viable) , and to ensure performance, would usually be kept in the home country jurisdiction where investment is less risk averse. Such investment can include high quality manufacturing, research and development and others. This discretionary investment could further raise investor confidence in Vietnam as a destination for high tech, R&D and other forms of investment.

Vietnamese outward investment could be boosted

2014 was regarded as a bumper year for Vietnamese outward FDI, with approximately US$1 billion going to 129 projects around the world. While the biggest recipients of Vietnamese FDI have been Myanmar and Cambodia, the US and Singapore were also destinations, both of whom are parties to the TPP negotiations. This suggests that Vietnamese firms would be able to benefit from the ISDS mechanisms. While the US and Singapore have highly developed legal frameworks for the enforcement of foreign arbitral awards; both countries and Vietnam are indeed party to the New York Convention, this could seek to enhance Vietnamese enterprises’ access to a neutral ISDS mechanism. The wide scope of the Japanese and American positions on ISDS covering all major contracts between foreign investors and the host state, if agreed, could protect many forms of Vietnamese FDI to the US and Singapore.

A potential Appellate structure could enhance ISDS for investors

Although not confirmed as yet, the US has taken a leading role in the TPP negotiations in calling for an Appellate structure to the TPP ISDS. Such a mechanism has been widely promoted in US-led international investment agreements, and is included in the US model BIT as a review mechanism. Furthermore, the International Centre for Settlement of Investment Disputes (“ICSID”) secretariat has also considered reform to include an Appellate structure for reviewing arbitral awards. Such a mechanism in the TPP ISDS could have two implications for investors. Firstly, such a structure could harmonize the interpretation of the TPP treaty text, and allow for the correction of awards from the many private commercial arbitration institutions from different jurisdictions that contain different rules of interpretation, and provide a more legitimate investment framework for investors. Indeed, the basis behind the ICSID Appellate structure was to achieve the aforementioned.

Summation

This short look at some of the potential implications on both inward and outward investors in Vietnam suggests that there will be benefits to the international framework for investment in the region that will have the effect of boosting investor confidence between TPP members, on the back of a re-energized ISDS mechanism. With suggests that such negotiations are at an “advanced stage”, it is likely that more aspects of the agreement will be made public in the months to follow.

Bibliography

  • Sappideen, R. Ling Ling, He. ‘Investor-state Arbitration: The Roadmap from the Multilateral Agreement on Investment to the Trans-Pacific Partnership Agreement’, 40 Fed. L. Rev. 207 2012
  • Cai, Congyan. ‘Trans-Pacific Partnership and the Multilateralization of International Investment Law’, 6 J. E. Asia & Int’l. L. 385 2013
  • Ikenson, D. ‘A Compromise to Advance the Trade Agenda: Purge Negotiations of Investor-State Dispute Settlement’, 57 Free Trade Bulletin 2014
  • Mayer Brown JSM ‘A Guide to doing business in Vietnam’ 2015
  • Mayer Brown JSM ‘Will Vietnam Sink or Swim Amid a Proliferation of FTA?’ International Trade Asia, 2015
  • http://www.talkvietnam.com/2015/02/vietnams-outward-fdi-is-the-tide-turning/ Accessed 7/4/15
  • http://kluwerarbitrationblog.com/blog/2011/05/11/reconsidering-icsid-awards/ Accessed 7/4/15

By Joseph McDonnell – Vietnam Law Insight.

Disclaimer: This Briefing is for information purposes only. Its contents do not constitute legal advice and should not be regarded as detailed advice in individual cases. For more information, please contact us or visit the website: Http://LNTpartners.com