Feel free to download the PDF for your ease of reference: VIETNAM CAPITAL MARKET AND PROJECT FINANCE

Dr. Le Net, LNT & Partners

Although Vietnam’s capital markets were established more than twenty years ago, the participation of Vietnam-based law firms i the markets, both locally and internationally, is still rare. The main reasons for this have been the standardization of the State Securities Committee (SSC), the dominance of state capital, and strict foreign exchange controls.  The central new Government, formed in 2016, declared this year to be the “Enterprise Year” and issued many changes to laws and regulations to help make Vietnam become of the top four most open markets in ASEAN. The Government also accelerated its privatization plan (so-called “equalization”) and reduced interference from official development assistance (ODA) with project financing, as well as with recent legal reforms. The time for Vietnamese lawyers in capital markets and project finance is forthcoming.


The Law on Securities (LOS) governs Vietnam’s debt market for bonds, and the equity market for shares of public companies – joint stock companies (JSC) that have more than 100 shareholders. The largest trading volume in the Ho Chi Minh City Stock Exchange (HOSE) and the Hanoi Stock Exchange (HNX) is from Government bonds, which are invested by financial institutions with very rare involvement from law firms. Shares are traded by listed companies, whose IPO’s are prepared by securities companies rather than law firms, unlike in other countries. Corporate bonds and project bonds are still rare, although recently, there have been a number of offshore bonds available on the market.

The role of law firms is mainly for either IP offshore or pre-IPO onshore dealings between strategic partners with a target state owned enterprise (SOE) before equalization has taken place. So far, only leading international law firms or the top three local law firms have been eligible to participate in this narrow market.

Under the LOS, a public company must be registered at the SSC and its shares must be deposited at the Vietnam Securities Depository (VSD). Acquisitions gaining more than 25% of their total shares will be subject to a mandatory public offering (MPO). Almost all state owned enterprises (SOE) going through equalization will become public companies. In reality, many of the equitized SOEs are not registered with the SSC, and therefore, neither the MPO nor the UPCoM apply to them. To facilitate M&As in those companies, certain complex and often unprecedented restructuring models are required, and leading local law firms are proven to be more adept at this, as local laws are complicated and require practical solutions to overcome them.

Another point to note is that selling state shares in equitized SOEs must be done through the HOSE or the HNX, although information on the target company and its valuation is not always transparent. Certain foreign investment funds are willing to take risks investing in equitized companies as such opportunities rarely exist. Many of them can later transfer to Japanese, Thai or Korean conglomerates, with assistance from top law firms that gain innovative lawyers through the Financial Times or deal firm of the year by IFLR, Chambers, or ALB Thomson Reuters. It is expected that  M&As in public or equitized SOEs will be on the rise as those law firms gain more experience on M&A restructuring and legal due diligence with large SOEs.

Apart from the Vietnam debt and equity market, offshore IPOs are on the rise, as the SSC now provides guidelines for investment and offshore listings.  Other areas that Vietnam needs to develop are in high yield products, securitization, debt structuring, and trusts.  Some good news is that, for the first time, the new Civil Code 2015 introduced the concept of “hưởng dụng” – usus fructus that are similar to trusts. Similarly, the Enterprise Law 2014 also reduces conditions to issue bonds or derivatives, making securisation more feasible.


Vietnam’s economic growth was 6.8 percent in 2015, based on two engines: export and a growth of middle income consumers among its young 90 million person population. Due to strong exports, the Vietnamese Dong currency has proven to be resilient despite the devaluation of the Chinese Reminbi. The State Bank of Vietnam (SBV) also issued new regulations allowing enterprises to invest or lend abroad. However,  obtaining offshore investment registration certificates (OIRC) is still a challenge for Vietnamese entities. Recently, Saigon Coop lost its 1 billion EUR Big C bid because of delays in obtaining an OIRC, and the strict foreign exchange controls for offshore lending or using foreign exchange to fund onshore projects.  To overcome these regulations, local investors may either need to contact foreign or local lenders in order to deposit foreign currency abroad. More deregulations are expected to ease capital inflow and outflow.


The second trend in Vietnamese financial services law firms is the sophistication of project finance. Some top local law firms have been involved in highly regarded transactions such as: the funding of Haiphong International Container Terminal (HICT), the M&A of the Big Co supermarket system, the development of mega thermal power plants, offshore oil rigs for Petro Vietnam, or aircraft finance for VietJet Air to acquire 100 aircrafts from Airbus and now Boeing. In those projects, the security comes second to project feasibility, and the risk of non-completion is now recognized as a major issue facing lenders or bond investors. To address these risks, financial service lawyers must be skillful not only with the  Asia Pacific Lenders Master Agreement (APLMA) loan structure but also with  focusing commercial expertise on construction contracts, as well as delays and cost overruns to counter the non-completion risks present in project finance. In addition, lawyers need to assist clients to obtain extra incentives and support to guarantee cash flow from the project.

For state support projects, investors often request the government’s guarantee. Nowadays the Government often refuses to provide guarantees, after its anticipated debt caused by the guarantee under the Nghi Son Oil Refinery project.  Lawyers need to find other means to support clients such as through incentives and investment protections rather than through direct financial supports from the State.

Until recently, Vietnam still relies on state capital and ODA funding for its industrialization and infrastructure development. However, as the public debt is reaches 80% of the GDP, SOEs becoming inefficient, and the country’s growth rate still high, the Government is expected to equitize its public sector and focus on enhancing infrastructure for the private sector, including with foreign investors. Changes in the Civil Code, Civil Procedural Code, Enterprise Law, Investment Law, and the Decree on Private Public Partnership (PPP) are some major examples. This policy shift will no doubt create more room for large law firms to develop their financial service sectors to meet the ever demanding growth for their clients.


For further information/ insights, please contact:

Dr. Le Net, email:

Một số kiến nghị giải quyết vướng mắc cho Doanh Nghiệp và hoàn thiện Luật


1. Vấn đề:

Nhà đầu tư nước ngoài đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong tổ chức kinh tế và quyền vận hành dự án.

Nguyên nhân:

Trước thời điểm có Luật doanh nghiệp 2014 và Luật đầu tư 2014, thông tin dự án đầu tư (từ năm 1990 đến năm 2014) được ghi nhận trên cơ sở các giấy tờ như: Quyết định phê duyệt dự án, Quyết định phê duyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật của dự án, Giấy chứng nhận đầu tư, v..v.. Các giấy tờ này ghi nhận thông tin Chủ đầu tư của Dự án. Khi Luật doanh nghiệp 2014 và Luật đầu tư 2014 ra đời, có sự tách biệt rõ ràng khi thông tin về Dự án được ghi nhận trên Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (IRC) (theo Điều 39 Luật đầu tư 2014), còn thông tin về Doanh nghiệp thì được ghi nhận trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (ERC) (theo Điều 28, 29 Luật doanh nghiệp 2014). Theo Điều 46 của Nghị định 118, Nhà đầu tư nước ngoài đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong tổ chức kinh tế không phải thực hiện thủ tục cấp IRC mà chỉ cần thay đổi ERC hoặc trong một số trường hợp phải nộp hồ sơ cho Sở Kế hoạch và Đầu tư có thẩm quyền để xem xét việc đáp ứng điều kiện đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài và thông báo cho nhà đầu tư.

Vấn đề đặt ra khi Nhà đầu tư nước ngoài đã đáp ứng đủ điều kiện và thực hiện mua Doanh nghiệp đang vận hành dự án nhưng tên chủ đầu tư trên giấy tờ dự án chưa được điều chỉnh thì Nhà đầu tư nước ngoài đó có quyền vận hành dự án hay không và có cần thiết phải thực hiện thêm thủ tục chuyển nhượng dự án quy định tại Điều 45 Luật Đầu Tư và Điều 37 Nghị định 118 hay không. Nếu trên thực tế các Nhà đầu tư vẫn phải thực hiện thủ tục này thì không khác gì phải thực hiện một thủ tục kép cho việc đầu tư vào Việt Nam. Từ đó, điều này cũng có thể trở thành một rào cản cho các Nhà đầu tư nước ngoài.

Giải pháp và kiến nghị:

Thứ nhất, luật cần phân biệt khái niệm “Chủ đầu tư dự án”, tức là người bỏ vốn thực hiện xây dựng dự án và “Người vận hành dự án”, tức là tổ chức được cấp quyền vận hành dự án. Sau khi dự án hoàn thành và đưa vào vận hành, thông tin về Chủ đầu tư không còn quan trọng nữa. Chủ đầu tư có thể tự do chuyển nhượng dự án đầu tư cho các đổi tượng khác để vận hành dự án và thông tin chủ đầu tư không cần ghi nhận trong IRC hoặc các giấy tờ pháp lý có giá trị tương đương. IRC chỉ nên quy định rõ bên có quyền vận hành dự án.

Thứ hai, để đơn giản hóa các thủ tục hành chính và trong khi Nhà nước vẫn có thể quản lý việc Nhà đầu tư nước ngoài đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong tổ chức kinh tế thông qua cơ chế quy định tại Điều 46 Nghị định 118 thì chúng tôi kiến nghị rằng luật cần quy định rõ Nhà đầu tư nước ngoài trong trường hợp này đương nhiên có quyền vận hành dự án thông qua tổ chức kinh tế đang được cấp quyền vận hành dự án và không cần thiết phải thực hiện thêm bất cứ thủ tục điều chỉnh nào khác về chủ đầu tư dự án.

2. Vấn đề:

Giấy phép kinh doanh hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan đến mua bán hàng hóa tại Việt Nam của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo Nghị định 23/2007/NĐ-CP và Thông tư 08/2013/TT-BCT

Nguyên nhân:

Điều 5 Nghị định 23/2007/NĐ-CP quy định Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có hoạt động mua bán hàng hóa hoặc liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa đều phải được Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương) chấp thuận cấp Giấy phép kinh doanh để hoạt động mua bán hàng hoá và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá. Điều này gây khó khăn cho Nhà đầu tư nước ngoài khi họ đầu tư sản xuất nhưng lại phải xin phép mới được bán hàng hóa đó ra thị trường. Ngoài ra, khái niệm “hoạt động mua bán hàng hóa hoặc liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa” cần phải xin phép Bộ Công Thương quá rộng theo Điều 3.1 Nghị định 23/2007/NĐ-CP, bao gồm cả xuất khẩu, nhập khẩu, phân phối các hoạt động khác được quy định tại Chương IV, Chương V, Chương VI của Luật Thương mại 2005 như các hoạt động trung gian thương mại, đại lý, gia công .vv. Điều này hạn chế quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp.

Giải pháp và kiến nghị:

Thứ nhất, luật cần quy định rõ nhà đầu tư nước ngoài được quyền thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa hoặc liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa khi thực hiện sản xuất (có thể một hoặc một vài công đoạn) hàng hóa tại Việt Nam. Việc hạn chế quyền này chỉ nên tập trung vào một số hàng hóa bị hạn chế kinh doanh theo quy định của pháp luật. Thứ hai, phạm vi hoạt động thương mại cần phải xin phép Bộ Công Thương nên được thu hẹp lại, thực tế chỉ nên quy định cần xin phép đối hoạt động xuất nhập khẩu và phân phối hàng hóa và loại trừ tất cả các hoạt động khác được quy định tại Chương IV, Chương V, Chương VI của Luật Thương mại 2005.

3. Vấn đề:

Quyền cho thuê tài sản gắn liền trên đất đối với đất thuê trả tiền hàng năm.

Nguyên nhân:

Điều 175 Luật Đất đai 2013 quy định quyền của tổ chức kinh tế sử dụng đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm. Theo đó, quyền cho thuê tài sản gắn liền trên đất không được quy định như là một quyền của các tổ chức kinh tế sử dụng đất thuê trả tiền hàng năm. Nghị định 102/2014/NĐ-CP cũng quy định hình phạt đối với việc tự ý cho thuê tài sản gắn liền với đất được Nhà nước cho thuê thu tiền thuê đất hàng năm (Điều 19). Tuy nhiên, Điều 11.1(đ) Luật Kinh doanh Bất động sản 2014 quy định phạm vi kinh doanh bất động sản của tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: “Đối với đất được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất thì được đầu tư xây dựng nhà, công trình xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua”. Như vậy quy định của Luật Đất đai 2013 mâu thuẫn với quy định của Luật Kinh doanh Bất động sản 2014, và giới hạn quyền của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Hơn thế nữa, quy định xử phạt vi phạm hành chính về việc “tự ý cho thuê tài sản gắn liền với đất được Nhà nước cho thuê thu tiền thuê đất hàng năm” cũng không rõ ràng, vì không có định nghĩa cụ thể cho cụm từ “tự ý”. Như vậy thế nào thì không phải là “tự ý”? Và doanh nghiệp cần phải xin phép cơ quan nào để không bị coi là “tự ý”?

Giải pháp và kiến nghị:

Pháp luật nên cho phép việc doanh nghiệp cho thuê tài sản gắn liền trên đất được Nhà nước cho thuê trả tiền hàng năm với hai mục đích: thứ nhất là giải quyết mâu thuẫn giữa Luật Kinh doanh Bất động sản 2014 và Luật Đất đai 2013; thứ hai là bổ sung nguồn thu cho Nhà nước từ việc thu thuế đối với hoạt động cho thuê tài sản gắn liền trên đất của Doanh nghiệp.

By Vietnam Law Insight (LNT & Partners)