10 kỹ năng giải quyết tranh chấp của Trọng tài viên

Ngày hôm qua, Thứ ba (22/11/2016) Tiến sĩ Lê Nết đã có một bài trình bày tuyệt vời tại Hội thảo “Kỹ năng phòng ngừa và giải quyết tranh chấp trong đầu tư quốc tế” do Sở Tư pháp Thành phố phối hợp với Quỹ IRZ (CHLB Đức) tổ chức. Trong phần trình bày của mình, Tiến sĩ Lê Nết  không chỉ chia sẻ những kỹ năng cần thiết của Trọng tài mà còn đưa ra những ví dụ thực tiễn và hết sức gần gũi.

Dành cho các bạn độc giả không có cơ hội tham gia buổi Hội thảo hôm qua, LNT & Partners gửi đến các bạn bản tóm tắt phần trình bày của Tiến sĩ Lê Nết: “10 kỹ năng giải quyết tranh chấp của Trọng tài viên”.

Link: 10 ky nang giai quyet tranh chap cua trong tai vien

Sổ tay Luật sư – Chương 6: Tư vấn lĩnh vực xây dựng

Chương 6 của Sổ tay luật sư trình bày một số vấn đề pháp lý cơ bản liên quan đến việc tư vấn trong lĩnh vực xây dựng, bao gồm (i)  hợp đồng xây dựng, (ii) các rủi ro chính phát sinh trong quá trình xây dựng, (iii) quy định về hợp đồng xây dựng theo luật Việt Nam và theo FIDIC, và (iv) Giá hợp đồng xây dựng, phương thức thanh toán và hồ sơ thanh toán.

Tại chương này, một số quy định của pháp luật đã hết hiệu lực chẳng hạn như Luật Xây dựng 2003, Luật Đấu thầu 2005, Nghị định 48/2010, Nghị định 99/2007 được viện dẫn để đối chiếu với những thay đổi so với các quy định hiện tại, đặc biệt là Nghị định 37/2015 và Thông tư 09/2016 hoặc được viện dẫn để làm rõ lý do cho những thay đổi trong pháp luật hiện tại.

Phương pháp luận chủ yếu được trình bày xuyên suốt tại Chương 6 này là (i) trình bày vấn đề cần đề cập; (ii) phân tích và đánh giá; (iii) đưa ra các kết luận và kiến nghị cần thiết. Tuy nhiên tại một số tiểu mục do tính chất đặc thù, phương pháp luận này sẽ không được trình bày rõ ràng như vậy hoặc được lược bớt những phần không quan trọng.

Để đọc nội dung chi tiết của chương 6, vui lòng click link bên dưới:

Link Chuong 6: Tu van linh vuc xay dung

Luật sư Lê Nết

LNT & Partners

#LNT #vietnam #law

Một số bình luận về 10 án lệ được công bố bởi Hội động Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Ngày 06 tháng 04 năm 2016, Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã thông qua 06 án lệ và được công bố theo Quyết định số 220/QĐ-CA ngày 06 tháng 4 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao:

  1. Án lệ số 01/2016/AL được xây dựng trên cơ sở Quyết định giám đốc thẩm số 04/2014/HS-GĐT ngày 16/04/2014 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Giết người” (Án Lệ 01);
  2. Án lệ số 02/2016/AL được xây dựng trên cơ sở Quyết định giám đốc thẩm số 27/2010/DS-GĐT ngày 08-7-2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Tranh chấp đòi lại tài sản” (Án Lệ 02);
  3. Án lệ số 03/2016/AL được xây dựng trên cơ sở Quyết định giám đốc thẩm số 208/2013/DS-GĐT ngày 03-5-2013 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Ly hôn” (Án Lệ 03);
  4. Án lệ số 04/2016/AL được xây dựng trên cơ sở Quyết định giám đốc thẩm số 04/2010/QĐ-HĐTP ngày 03-3-2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” (Án Lệ 04);
  5. Án lệ số 05/2016/AL được xây dựng trên cơ sở Quyết định giám đốc thẩm số 39/2014/DS-GĐT ngày 09-10-2014 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Tranh chấp di sản thừa kế” (Án Lệ 05);
  6. Án lệ số 06/2016/AL được xây dựng trên cơ sở Quyết định giám đốc thẩm số 100/2013/GĐT-DS ngày 12-8-2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Tranh chấp thừa kế” (Án Lệ 06);

def

Các án lệ được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao:

  1. Án lệ số 07/2016/AL được xây dựng trên cơ sở Quyết định giám đốc thẩm số 126/2013/DS-GĐT ngày 23-9-2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án dân sự “Tranh chấp quyền sở hữu, sử dụng nhà” (Án Lệ 07);
  2. Án lệ số 08/2016/AL được xây dựng trên cơ sở Quyết định giám đốc thẩm số 12/2013/KDTM-GĐT ngày 16-5-2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án kinh doanh thương mại “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” (Án Lệ 08);
  3. Án lệ số 09/2016/AL được xây dựng trên cơ sở Quyết định giám đốc thẩm số 07/2013/KDTM-GĐT ngày 15-3-2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án kinh doanh thương mại “Tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa”(Án Lệ 09);
  4. Án lệ số 10/2016/AL được xây dựng trên cơ sở Quyết định giám đốc thẩm số 08/2014/HC-GĐT ngày 19-8-2014 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án hành chính “Khiếu kiện Quyết định bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất” (Án Lệ 10).

Để tìm hiểu chi tiết từng án lệ, các bạn độc giả hãy click link bên dưới:

Một số bình luận về 10 án lệ được công bố bởi Hội đồng Thẩm phán Tóa án nhân dân tối cao

GES Scholarship 2016

It has been 6 years that LNT & Partners together with other Law firms to sponsor for GES scholarship. We are honored to support young talents in law field to pursuit their dream of becoming a professional lawyer also empowering the next generations.

The ceremony took place at LNT & Partners’ office, in a friendly and cozy atmosphere. Let’s take a second to see those beautiful moments.

https://goo.gl/YMA9gp

#LNT #GES #Scholarship #annual

IFLR 1000 – Vietnam chapter

“Although Vietnam’s capital market has established more than 20 years ago, the participation of Vietnam-based law firms in the markets, both locally and internationally, is still rare.”

Dr. Net Le, Partner of LNT & Partners, has shared his opinion about current landscape for capital markets and project finance in Vietnam on IFLR 1000, Edition 2017.

If you want to learn more about the structure as well as the future of capital markets and project finance in Vietnam, please click on link below to see full article.

Link: Vietnam capital market & project finance: Its structure and future

Hội thảo “Kỹ năng phòng ngừa và giải quyết tranh chấp trong đầu tư quốc tế”

Tiến sĩ Lê Nết, Công ty luật LNT & Partners, sẽ có buổi trình bày tại Hội thảo “Kỹ năng phòng ngừa và giải quyết tranh chấp trong đầu tư quốc tế” do Sở Tư pháp Thành phố phối hợp với Quỹ IRZ (CHLB Đức) tổ chức vào ngày 21 và 22/11/2016 tại khách sạn Kim Đô, Quận 1. Phần trình bày của Tiến sĩ Lê Nết với nội dung liên quan đến những kỹ năng cần thiết của trọng tài viên bắt đầu vào 14:00 ngày 22/11/2016.

Meeting Hall in Kim Do hotel

Buồi hội thảo diễn ra dưới sự tham dự của các Sở ngành thành phố, các Ban quản lý của Thành phố có liên quan đến các dự án đầu tư có yếu tố nước ngoài, các tổ chức trọng tài thương mại của Việt Nam và các cá nhân, tổ chức có liên quan.

#legal #event

Đánh thuế ngôi nhà thứ 2 dưới góc nhìn chuyên gia

Ý tưởng đánh thuế người sở hữu bất động sản thứ 2 trở lên được đưa ra bàn luận tạo ra nhiều dư luận trái chiều. Báo Người Tiêu Dùng xin đăng tải một số nhận định của các chuyên gia, nhà đầu tư và luật sư về lĩnh vực bất động sản tại TP.HCM.

Tiến sĩ Lê Bá Chí Nhân, chuyên gia kinh tế

Định hướng này đưa ra hạn chế đầu tư và đầu cơ, kìm hãm sở hữu cá nhân, sở hữu nhiều bất động sản chờ thời để bán. Đồng thời, giúp nhiều người dân có nhu cầu mua nhà có cơ hội tiếp cận thị trường mà không cần thông qua các khâu trung gian, giúp quỹ nhà ở nới rộng, nhiều sự lựa chọn hơn cho khách hàng.

Tuy nhiên, Bộ Tài chính nên lưu ý một số vấn đề, phải quy định chặt để phân biệt đâu là người mua để đầu cơ và đâu là mua để sử dụng. Việc đánh thuế căn nhà thứ 2 cũng ảnh hưởng tới tâm lý người dân và khó có sự công bằng giữa người dân. Ví dụ, một gia đình sống trong biệt thự 10 tỷ đồng thì không bị đánh thuế. Còn một gia đình khác, có căn nhà chỉ 2 tỷ đồng muốn mua thêm một căn có giá 2 tỷ đồng nữa thì sẽ phải đóng thuế trong khi 2 căn nhà này chưa bằng giá trị căn biệt thự 10 tỷ đồng.

Định hướng này có thể khiến sức mua sẽ giảm, thậm chí có thể đóng băng. Ngoài ra, giá bất động sản đang rất cao nếu đánh thuế, những nhà đầu cơ có khả năng sẽ cộng thêm thuế vào để bán. Lúc đó, giá căn hộ lại bị đẩy cao hơn, khiến giấc mơ có một ngôi nhà của đối tượng chưa có nhà trở nên xa vời.

Ông Trần Khánh Quang, Tổng Giám đốc CTCP Đầu tư Bất động Việt An Hòa

Việc tính thuế căn nhà thứ 2 mà Bộ Tài chính dự kiến áp dụng để hạn chế việc sở hữu quá nhiều bất động sản không mang tính khả dụng.

Nhà nước cần tính đến yếu tố thu nhập từ khai thác bất động sản là cơ sở tính thuế. Thuế nên tính trên cơ sở thặng dư từ việc khai thác bất động sản.

Quy định cũng cần quan tâm đến tính khả thi khi thực hiện. Trong đó, có thể lưu ý đến diện tích hợp lý. Việc sở hữu căn nhà thứ 2 nên kèm thêm diện tích bình quân đầu người vì có nhiều trường hợp nhà đông người mà chỉ có căn nhà nhỏ nay mua thêm căn nhà nhỏ nữa để ở mà bị đánh thuế thì nên xem xét. Ví dụ một gia đình 5 người ở nhà 40 m2, nên mua thêm 1 căn 30 m2 nữa thì nên đánh thuế không?

Do hệ thống các bất động sản chưa được nhà nước quản lý nên việc kê khai đóng thuế để biết xem người đó có bao nhiêu nhà cũng khó. Vì vậy nên đơn giản hóa bằng tính tự nguyện như khi khai thuế thu nhập cá nhân khi chuyển nhượng bất động sản, nghĩa là tự kê khai tự chịu trách nhiệm. Bất động sản pháp lý nào nộp thuế. Hiện có 3 hình thức pháp lý như nhà chủ quyền, nhà không chủ quyền, hợp đồng mua bán. Nên tính thuế đối với nhà có chủ quyền là hợp lý.

home

(Ảnh minh họa)

Luật sư Trần Thái Bình, Công ty Luật LNT & Partners – Đoàn luật sư TP.HCM

Mục tiêu thứ nhất của chính sách này nhằm giảm đầu tư vào bất động sản của những người có khả năng. Điều này làm sẽ làm giảm vào nhu cầu phát triển nhà ở và hy vọng là giá bất động sản sẽ giảm, tạo khả năng sở hữu “căn nhà thứ nhất” cao hơn cho đối tượng chưa có nhà. Mục tiêu thứ hai là tạo thêm nguồn thu cho ngân sách nhà nước.

Đối với mục tiêu thứ nhất, chính sách này có chắc sẽ bình ổn thị trường bất động sản, làm giảm giá bất động sản và qua đó tạo cho tầng lớp thu nhập thấp có nhà ở cao hơn? Đó chỉ là hy vọng, bởi sẽ không chắc giá bất động sản sẽ giảm vì chính sách này. Giá bất động sản cao hiện nay là do “chi phí đầu vào” quá cao rồi (chi phí đền bù giải tỏa, tiền sử dụng đất phải nộp, chi phí đầu tư xây dựng…), nếu muốn giảm, chỉ có thể giảm “chi phí đầu vào”. Trong khi đó, việc đánh thuế căn nhà thứ 2, vô hình trung làm gia tăng chi phí đầu vào đối với bất động sản. Người không đủ khả năng mua nhà lại càng không đủ khả năng.

Chính sách này là cần thiết, nhưng áp dụng khi nào, cho đối tượng nào cho đúng, cần phải nghiên cứu thấu đáo và ảnh hưởng xã hội. Bởi vì nếu không có sự nghiên cứu thấu đáo, không những không giảm những khiếm khuyết của thị trường bất động sản hiện nay, mà còn làm gia tăng áp lực, giá nhà cao hơn, giá thuê nhà cao hơn, và thị trường càng áp lực hơn, nhu cầu về nhà ở của một tầng lớp nhân dân thu nhập chưa cao sẽ xa vời hơn. Và như vậy, theo tôi, hiện nay chính sách này chưa phù hợp. Trước hết, như đã nói, nhà nước cần nghiên cứu biện pháp để tăng khả năng có chỗ ở, nhà ở cho tầng lớp thu nhập thấp trước tiên, tầng lớp có nhu cầu “căn nhà thứ nhất”, thì thị trường bất động sản cũng sẽ ổn định lắm rồi.

Ông Phan Công Chánh, Chủ tịch Hội đồng Quản trị CTCP Tư vấn Đầu tư Phú Vinh

Đánh thuế bất động sản thứ 2 trở đi là một xu thế phù hợp với hướng đi của quốc tế nhằm lành mạnh hóa thị trường bất động sản, giúp thị trường phát triển minh bạch và bền vững. Chính sách đánh thuế bất động sản ở các nước khác sẽ càng tăng nếu giá trị bất động sản càng lớn. Tức là đánh thuế người giàu.

Việc áp dụng đề án đánh thuế bất động sản sẽ có tính hai mặt. Một mặt, thúc đẩy tính minh bạch của thị trường bất động sản, chống đầu cơ, tạo thêm cơ hội cho những người sở hữu nhà lần đầu, hạn chế vấn đề đứng tên hộ bất động sản. Mặt khác, chắc chắn trong giai đoạn đầu áp dụng sẽ có nhiều vấn đề phát sinh, cần nghiên cứu, khảo sát kỹ lưỡng trước khi áp dụng. Ví dụ: Mức thuế suất vừa phải, có lộ trình phù hợp với hiện tại.

Các nhà đầu tư bất động sản cá nhân sẽ đón nhận chính sách thuế này với một sự dè dặt, thận trọng và chắc chắn chính sách thuế này sẽ có tác động mạnh đến nhóm này.

Cụ thể đối với nhóm các nhà đầu tư cá nhân mua đầu cơ để cho thuê hoặc mua đi bán lại sẽ thận trọng hơn trong việc tính toán về doanh thu, chi phí và lợi nhuận khi đầu tư cũng như thời gian nắm giữ bất động sản. Vì chắc chắn lợi nhuận sẽ giảm đi nếu thuế tăng thêm. Nhưng tính thận trọng này sẽ giúp cho thị trường bất động sản lành mạnh và phát triển bền vững hơn.

Tính thuế nhà thứ hai: Nhiều nhà lo ít hơn không nhà?

Việc thu thuế từ nhà thứ hai trở lên, theo đánh giá của giới kinh doanh bất động sản là không thể kéo giảm giá nhà mà chỉ khiến cho cơ hội muốn có nhà ở của người dân càng trở nên khó khăn hơn.

Ông Huỳnh Quang Hải, Thứ trưởng Bộ Tài chính, cho biết Bộ Tài chính đã giao Vụ Chính sách thuế nghiên cứu thuế tài sản sẽ tính toán việc đánh thuế với nhà, nhất là những nhà thứ 2 trở lên.

Theo ông Hải, trong năm 2017 có lẽ chưa thể đánh thuế này. Tuy nhiên, tương lai chắc chắn sẽ phải thu vì không chỉ ngân sách khó khăn mà các nước đã tính thuế này từ rất lâu rồi.

Phương án 1: Chỉ thu đối với nhà thứ hai trở lên theo thuế tuyệt đối. Nhà dưới hai tầng không thu thuế, nhà từ hai tầng trở lên có mức thu là 2.000 đồng/m2/năm. Nhà cấp 3 và chung cư thu 1.000-4.000 đồng/m2/năm.

Phương án 2: Thu theo giá trị nhà, phần giá trị trên 1 tỷ đồng mới chịu thuế 0,03%.

Phương án 3: Thu thuế phần diện tích nhà trên 200 m2. Nhà cấp 4 không thu thuế, còn nhà hai tầng trở lên thì thu 2.000-4.000 đồng/m2/năm. Với nhà chung cư thì thu từ 1.000-3.000 đồng/m2/năm tùy loại nhà.

Nhiều chuyên gia cho rằng cần phải triển khai loại thuế này không chỉ vì tận thu ngân sách mà vì nhiều nước đã làm và nó sẽ ngăn chặn tình trạng đầu cơ nhà đất, kéo giảm giá nhà để người có thu nhập thấp có cơ hội mua nhà.

Theo chuyên gia Ngô Hạnh: Nước Anh vừa áp thuế tài sản phụ trội lên bất động sản thứ hai kể từ ngày 1/4/2016. Cụ thể, với những bất động sản thứ hai có giá trên 40.000 bảng, người mua phải đóng thêm 3% so với mức thuế thông thường. Nhà có giá trên 1,5 triệu bảng, mức thuế lên tới 15%.

Theo quy định của Anh, bất động sản thứ hai là bất cứ tài sản nào ngoài bất động sản đầu tiên (nhà chính để ở) dù với mục đích là nhà nghỉ dưỡng, đầu tư hay mua giúp người thân.

Cha mẹ muốn mua nhà cho con cái cũng sẽ bị đánh thuế, trừ khi chỉ hỗ trợ một phần – tức đồng sở hữu. Nhưng nếu bán nhà cũ trong vòng 36 tháng sau khi mua nhà thứ hai, người mua sẽ được hoàn trả thuế.

Tại Singapore, thuế tài sản phụ trội được áp rất cao trên bất động sản thứ hai, lên đến 7% trên giá mua nhà và 10% đối với bất động sản thứ ba, áp dụng từ năm 2013.

Chính sách thuế mới nhằm ngăn chặn nạn đầu cơ và ổn định giá nhà ở, đặc biệt là cho các dự án nhà ở công.

Nhưng trái ngược với lý thuyết trên chính người chưa có nhà mới tỏ ra lo lắng vì thuế luôn có hệ lụy là kéo vật chủ tăng giá.

Còn người mua bán nhà theo kiểu được giá thì bán, thường vốn tỏ ra bình thường: “Chúng tôi chỉ “ôm” vài căn nhà, thời gian không thể kéo dài do đó thuế này không ảnh hưởng nhiều với người mua bán. Chỉ người chủ thật sự có nhiều nhà để dưỡng già hoặc để dành cho con cháu mới ảnh hưởng đáng kể bởi thuế này. Nói thuế này đánh vào giới đầu cơ là không chính xác vì bất động sản không khan hiếm, nguồn cung dồi dào, ai cũng muốn “xả hàng”, ôm nhiều cho thua lỗ sao?”.

Nói chung người dân đã chịu nhiều loại thuế, việc mua bán nhà cũng phải đóng thuế việc thu thuế từ nhà thứ hai trở lên, theo đánh giá của giới kinh doanh bất động sản là không thể kéo giảm giá nhà khiến cho cơ hội muốn có nhà ở của người dân càng trở nên khó khăn hơn.

Nên chăng Bộ Tài chính nghiên cứu, cân nhắc vấn đề nhiều mặt để có chính sách phù hợp.

Hiệp hội Bất động sản TP.HCM (HoREA) đề xuất không đánh thuế nhà cấp 4, nhà dưới 1 tỷ đồng sau khi có thông tin Bộ Tài chính đang nghiên cứu thuế tài sản, theo đó sẽ tính toán đánh thuế với nhà, nhất là những nhà thứ 2 trở lên. Thừa nhận sắc thuế này sẽ góp phần giúp cho thị trường bất động sản phát triển lành mạnh, minh bạch, phòng chống đầu cơ, tạo thêm cơ hội cho người có nhu cầu thật tiếp cận nhà ở và tăng thêm nguồn thu cho ngân sách nhà nước… nhưng theo HoREA, không nên thu thuế này đối với nhà ở xã hội, nhà ở tái định cư, nhà ở thương mại có giá trị dưới 1 tỷ đồng, nhà cấp 4 trở xuống.

Ngoài ra, các hộ gia đình dù đã có một căn nhà nhưng đang ở chật (đối với TP.HCM dưới mức bình quân 10 m2 /người) nay mua thêm nhà thứ 2, thứ 3… nhưng tổng diện tích các căn hộ nhỏ này cũng chỉ dưới 200 m2 cũng không nên thu thuế. Và trong giai đoạn đầu nên áp dụng mức thuế suất vừa phải, phù hợp với sức dân.

Hiệp hội cũng kiến nghị cần hoàn thành nhanh việc cấp sổ đỏ cho các bất động sản đồng thời hoàn thiện hệ thống thông tin dữ liệu quốc gia, trong đó có cơ sở dữ liệu nhà ở quốc gia, liên thông các ngành, các tỉnh và được cập nhật theo thời gian thực, nhất là phải hoàn thành cấp thẻ căn cước công dân, xác định mã số định danh cá nhân, để biết rõ người đang sở hữu nhà ở.

Đến nay chưa biết thời điểm nào sẽ áp dụng tuy nhiên dư luận khá xôn xao trước thông tin này do hiện nay đã có khá nhiều khoản thu liên quan đến nhà, đất như tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế thu nhập cá nhân khi chuyển nhượng bất động sản, thuế phi nông nghiệp… Chưa kể tuy các chuyên gia có nêu nhiều nước đã thu thuế nhà nhưng chưa tham chiếu đầy đủ các phúc lợi xã hội mà họ thụ hưởng so với thuế phải đóng.

Khang Hoàng

(Theo Vũ Sơn – Báo Người Tiêu Dùng) 

Our Managing Partner at “Law Insight” event, University of Economics and Law (UEL)

Mr. Bui Ngoc Hong, Managing Partner at LNT & Partners came to University of Economics and Law to give a speech at the “Law Insight” event on November 05, 2016.

His sharing was regarding career overview in legal industry and helpful advices for young people who are pursuing their own dreams to be a lawyer.

One of his sayings which was also a message to the audiences: “Being “green” always to learn new things.”

14947508_1252244714796510_774808444277213032_n

A memorable photo

https://goo.gl/g3QOKX

#LNT #CSR #Speech #MP #Legal #Vietnam

LNT & Partners donated to people in the middle of Vietnam

We are happy to accomplish a donation at Tuoi Tre news’ headquarter this morning. With Tuoi Tre’s support, the donation would be transferred directly to help people who are struggling against a very terrible flood in the middle of Vietnam at this moment.

Processed with VSCO with f2 preset

LNT & Partners’ head of HR (right side)

Hopefully this natural disaster shall end soon.

Thank you so much to all contributors for your kind hearts.

ĐỐI TƯỢNG BẢO HỘ SÁNG CHẾ MỚI THEO TPP VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN THỊ TRƯỜNG DƯỢC PHẨM TẠI VIỆT NAM

Tóm lược

Pháp luật sở hữu trí tuệ, bên cạnh vai trò là ngành luật bảo vệ quyền tài sản của các chủ thể, còn đóng vai trò quan trọng đối với sự tiến bộ về khoa học công nghệ của mỗi quốc gia, do đó, bất kỳ sự thay đổi nào trong pháp luật về sở hữu trí tuệ đều có thể dẫn đến những tác động mạnh mẽ đến tiến trình phát triển của nền kinh tế. Trong bối cảnh các cam kết về bảo hộ sáng chế ở mức độ cao trong Hiệp định TPP có khả năng sẽ được thi hành, Việt Nam cần chuẩn bị những biện pháp nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực đến ngành công nghiệp dược phẩm trong nước. Bản tham luận này đề cập đến những khó khăn và thách thức mà ngành công nghiệp dược phẩm sẽ phải đối mặt khi Việt Nam mở rộng đối tượng bảo hộ sáng chế theo cam kết trong TPP, cụ thể là thực hiện bảo hộ cách sử dụng, phương pháp sử dụng hoặc quy trình sử dụng mới của một sản phẩm đã biết. Trên cơ sở làm rõ những tác động của những đối tượng này đến thị trường dược phẩm, bao gồm trở ngại trong việc sản xuất thuốc gốc, giá thuốc tăng cao, khả năng tiếp cận thuốc của cộng đồng bị hạn chế, bản tham luận đã đề ra một số giải pháp về mặt chính sách cũng như về mặt kinh tế và khoa học nhằm hạn chế phần nào những tác động thiếu tích cực mà việc bảo hộ các đối tượng sáng chế mới có thể mang lại cho ngành công nghiệp dược phẩm tại Việt Nam

Dẫn nhập

Hiệp định đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (gọi tắt là Hiệp đinh TPP) đã được Bộ trưởng các nước tham gia đàm phán ký kết vào đầu năm nay. Mặc dù đến thời điểm hiện tại, các nước thành viên vẫn đang trong giai đoạn thực hiện các thủ tục pháp lý nội bộ để phê chuẩn Hiệp định. Tuy nhiên, Việt Nam với tư cách là một bên tham gia đàm phán và ký kết Hiệp định, nhiều khả năng sẽ phải thực hiện các cam kết được ghi nhận trong Hiệp đinh, trong đó có các cam kết liên quan đến vấn đề sở hữu trí tuệ.

Quá trình đàm phán Hiệp định TPP đã diễn ra không hề suôn sẻ khi các bên tham gia đàm phán phải nỗ lực trung hoà những lợi ích đối lập. Chương 18 của bản dự thảo Hiệp định TPP, đề cập đến vấn đề sở hữu trí tuệ, bao gồm các vấn đề về sáng chế, chỉ dẫn địa lý, thực thi quyền,… đã gây ra những tranh luận gay gắt giữa nhóm các nước có nền kinh tế phát triển và nhóm các nền kinh tế đang phát triển trong số 12 nước tham gia đàm phán TPP. Tuy nhiên, để có thể đạt được một thoả thuận chung, hài hòa lợi ích của tất cả các bên, mỗi quốc gia thành viên đều phải có những nhượng bộ trong một số lĩnh vực nhất định.

Đối với Việt Nam, có cơ sở để nhận định rằng, những thoả thuận được ghi nhận tại Chương Sở hữu trí tuệ của TPP là sự đánh đổi lớn của Việt Nam để đạt được các lợi ích quan trọng khác về thương mại và đầu tư. Theo đó, Việt Nam đã chấp nhận những điều kiện bảo hộ về sở hữu trí tuệ cao hơn rất nhiều so với mức độ mà Việt Nam đang thực hiện. Đặc biệt là mức độ bảo hộ cực kỳ cao đối với sáng chế, thể hiện rõ nét qua các điều khoản mở rộng phạm vi đối tượng được bảo hộ, được dự đoán sẽ là thách thức cho nền công nghiệp dược phẩm, một ngành công nghiệp non trẻ và nhạy cảm của Việt Nam.

Bản tham luận này, sau đây sẽ phân tích những tác động, đồng thời cũng là những khó khăn mà ngành công nghiệp dược phẩm của Việt Nam sẽ phải đối mặt trong tương lai khi một số đối tượng mới được bảo hộ theo cam kết trong TPP. Qua đó, đề xuất một số biện pháp khắc phục phù hợp với các cam kết quốc tế cũng như điều kiện và khả năng thực tế của Việt Nam.

intellectual-property

Đối tượng bảo hộ sáng chế mới theo cam kết tại Hiệp định TPP

Chương 18 của Hiệp định TPP về sở hữu trí tuệ thiết lập một cơ chế bảo hộ mới, được đánh giá là cao hơn nhiều so với mức độ bảo hộ hiện tại được ghi nhận tại Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền Sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPS) cũng như Luật Sở hữu trí tuệ mà Việt Nam đang áp dụng. Cụ thể, Chương 18 Hiệp định TPP về sở hữu trí tuệ ghi nhận các thỏa thuận chung của các quốc gia trong lĩnh vực bảo hộ sáng chế, bao gồm các điều khoản về phạm vi các đối tượng được bảo hộ, điều chỉnh thời hạn của bằng độc quyền sáng chế, bảo vệ dữ liệu thử nghiệm,… Trong số các điều khoản tại Chương này, điều khoản ghi nhận sự mở rộng về phạm vi đối tượng được bảo hộ sáng chế được nhận định sẽ có tác động mạnh mẽ đến hệ thống bảo hộ sáng chế của Việt Nam.

Cụ thể, liên quan đến phạm vi các đối tượng được bảo hộ sáng chế, Điều 18.37.2 Hiệp định TPP quy định như sau:

Điều 18.37: Đối tượng được bảo hộ sáng chế.

  1. Theo khoản 3 và 4 và phù hợp với khoản 1, mỗi Bên khẳng định rằng bằng sáng chế có thể được cấp cho các sáng chế yêu cầu bảo hộ một trong các yếu tố sau: cách sử dụng mới của một sản phẩm đã biết, phương pháp sử dụng mới của một sản phẩm đã biết, hoặc quy trình sử dụng mới của một sản phẩm đã biết.Một Bên có thể hạn chế các quy trình sử dụng mới đó với những đối tượng không đòi hỏi việc sử dụng sản phẩm theo quy trình như vậy.”

Theo quy định của TRIPS và Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề kỹ thuật xác định. Để được bảo hộ là sáng chế, một sản phẩm hoặc quy trình phải đáp ứng yêu cầu về tính mới, tính sáng tạo và có khả năng áp dụng công nghiệp.[1] Theo đó, các đối tượng như cách sử dụng mới của một sản phẩm đã biết, phương pháp sử dụng mới của một sản phẩm đã biết, hoặc quy trình sử dụng mới của một sản phẩm đã biết không thể được bảo hộ là sáng chế do bản thân chúng, một cách độc lập, không phải là sản phẩm hay quy trình, hoặc nếu có, cũng không có đủ tính mới hay đủ trình độ sáng tạo.[2]

Tuy nhiên, trong trường hợp Hiệp định TPP được thông qua và vận hành, Việt Nam nhiều khả năng sẽ thực hiện bảo hộ đối với các đối tượng mới này. Điều này được đánh giá sẽ tạo ra sự tác động mạnh mẽ đối với thị trường dược phẩm tại Việt Nam.

Tác động của việc bảo hộ các đối tượng mới đến thị trường dược phẩm tại Việt Nam

Đối với ngành công nghiệp sản xuất thuốc gốc (thuốc generic), thuốc tương tự sinh học (thuốc biosimilar):

Khi một loại thuốc mới được nghiên cứu thành công và được cấp phép lưu hành, được gọi là biệt dược gốc (thuốc brand name) được cấp bằng sáng chế, chủ sở hữu bằng sáng chế của biệt dược gốc đó có độc quyền trong việc sản xuất biệt dược đó. Thông thường, để có thể sản xuất một biệt dược đang được bảo hộ, các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm sẽ phải trả phí chuyển quyền sử dụng sáng chế (phí license) cho chủ sở hữu bằng độc quyền sáng chế của biệt dược đó. Trong hầu hết các trường hợp, phí chuyển quyền sử dụng sáng chế do các bên thỏa thuân, vì vậy, khoản phí này thường được chủ sở hữu ấn định ở mức rất cao. Tại Việt Nam, một nước đang phát triển với trình độ khoa học và tiềm lực kinh tế còn hạn chế, các công ty dược phẩm muốn sản xuất biệt dược thường phải chờ đến khi văn bằng bảo hộ sáng chế cấp cho biệt dược hết thời hạn để tiến hành sản xuất theo công thức của biệt dược đó. Sản phẩm của quá trình sản xuất này được gọi là thuốc gốc. Theo đó, thuốc gốc là thuốc có tính tương đương sinh học với biệt dược, chứa cùng lượng dược chất, sử dụng trong cùng điều kiện sinh khả dụng, tức là có tốc độ hấp thu vào cơ thể giống như biệt dược.[3]

Tương tự như vậy, chủ sở hữu của bằng độc quyền sáng chế đối với các loại thuốc có nguồn gốc sinh học (còn được gọi là các chế phẩm sinh học bao gồm các hormone tái tổ hợp, các chế phẩm máu, kháng thể đơn dòng, vắc xin tái tổ hợp và các sản phẩm ứng dụng công nghệ gen khác) cũng sẽ được cấp độc quyền sản xuất trong một khoảng thời gian nhất định. Khi hết thời hạn này, các doanh nghiệp sản xuất thuốc dù không được chủ sở hữu cho phép cũng có quyền sản xuất và đưa ra thị trường các sản phẩm thay thế có cùng bản chất và cùng chỉ định điều trị, tuy nhiên, với các điều kiện ngặt nghèo hơn so với thuốc gốc. Cụ thể, để có thể được lưu hành trên thị trường, thuốc generic chỉ cần chứng minh tính tương tự bào chế, tính tương đương sinh học, trong khi thuốc tương tự sinh học phải có dữ liệu thử nghiệm lâm sàng và tiền lâm sàng độc lập mà không được sử dụng dữ liệu thử nghiệm của chế phẩm sinh học đã được bảo hộ trước đó như đối với thuốc gốc. Các loại thuốc được sản xuất theo phương thức này được gọi là các thuốc tương tự sinh học (thuốc biosimilar).

Theo các quy định hiện tại của Hiệp định TRIPS cũng như các quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, đối với mỗi sáng chế, bằng độc quyền sáng chế có hiệu lực trong vòng 20 năm kể từ ngày nộp đơn yêu cầu bảo hộ. Kết thúc thời hạn này, các doanh nghiệp sản xuất thuốc có quyền sản xuất thuốc gốc hoặc thuốc tương tự sinh học mà không phải trả phí chuyển quyền sử dụng sáng chế. Tuy nhiên, với nội dung cam kết tại Điều 18.37.2 của Hiệp định TPP, chủ sở hữu bằng độc quyền sáng chế, cụ thể là một số doanh nghiệp sản xuất dược phẩm, có thể kéo dài thời hạn 20 năm độc quyền lên gấp nhiều lần bằng phương thức có tên gọi là “evergreening”.

Có nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “evergreening”, tuy nhiên, có thể hiểu “evergreening” là phương thức được chủ sở hữu sử dụng để kéo dài thời gian được bảo hộ độc quyền sáng chế nhờ việc tạo ra một thay đổi nhỏ đối với sáng chế mà thậm chí không làm tăng thêm giá trị sử dụng của sáng chế đó.[4] Ví dụ, trong trường hợp muốn kéo dài thời hạn bảo hộ sáng chế của một sản phẩm thuốc biệt dược, khi sắp hết thời hạn bảo hộ, chủ sở hữu tiếp tục nộp đơn yêu cầu bảo hộ cho một công dụng mới của loại thuốc đó, một dạng bào chế mới, hoặc một một cách sử dụng mới. Đối với dược phẩm, ngay cả người không có chuyên môn trong lĩnh vực này cũng biết rằng, một loại thuốc hoàn toàn có thể có nhiều công dụng, nhiều dạng bào chế, và nhiều cách sử dụng khác nhau.

Như vậy, quy định tại Điều 18.37.2 Hiệp định TPP rõ ràng đã tạo điều kiện vô cùng thuận lợi cho chủ sở hữu sáng chế nói chung, đặc biệt là chủ sở hữu sáng chế dược phẩm thực hiện phương thức “evergreening”. Bằng cách tạo ra những thay đổi nhỏ đối với loại thuốc đã được bảo hộ (ví dụ sản xuất thuốc dạng nước thay vì dạng viên cứng như trước đây hoặc sử dụng bằng đường uống thay vì đường tiêm,…) từ đó thời hạn bảo hộ độc quyền đối với một loại thuốc có thể bị kéo dài thêm nhiều lần so với thời hạn 20 năm ban đầu.

Như một hệ quả tất yếu của việc thời hạn bảo hộ bị kéo dài thêm nhiều lần, không có bất kỳ một doanh nghiệp dược phẩm nào được quyền sản xuất thuốc gốc nếu sáng chế được bổ sung thêm một công dụng, một dạng bào chế mới hoặc một cách dùng mới vào thời điểm nó gần hết thời hạn bảo hộ, các doanh nghiệp sản xuất thuốc gốc sẽ phải chờ một khoảng thời gian dài gấp nhiều lần 20 năm, mới có thể sản xuất thuốc gốc. Do đó, nếu TPP được vận hành, quy định tạo điều kiện cho phương thức kéo dài thời hạn bảo hộ tại Điều 18.37.2 sẽ được Việt Nam nội luật hóa, ngành công nghiệp sản xuất thuốc gốc và thuốc tương tự sinh học, vốn chiếm tỷ trọng lớn trong ngành công nghiệp sản xuất dược phẩm của Việt Nam, sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

  • Đối với giá thuốc và quyền tiếp cận thuốc của người dân Việt Nam.

Từ trước đến nay, dược phẩm luôn được xem là sản phẩm thiết yếu và nhạy cảm, ảnh hưởng đến lợi ích công cộng và tính mạng, sức khỏe con người và chất lượng cuộc sống. Thuốc gốc, do không phải bao gồm chi phí nghiên cứu và phát triển cũng như phí chuyển quyền sử dụng sáng chế, thường có giá thành rẻ hơn rất nhiều so với thuốc biệt dược. Vì vậy, thuốc gốc trở thành lựa chọn của rất nhiều bệnh nhân, đặc biệt là tại Việt Nam, đất nước có thu nhập bình quân đầu người ở mức thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực cũng như trên thế giới.

Chấp nhận bảo hộ các đối tượng tại Điều 18.37.2 Hiệp định TPP đồng nghĩa với việc chấp nhận rằng thời gian bảo hộ độc quyền sáng chế đối với dược phẩm rất có thể sẽ tăng lên gấp nhiều lần bằng phương thức “evergreening”. Khi thời hạn bảo hộ sáng chế bị kéo dài thêm, các doanh ngiệp dược phẩm không thể sản xuất thuốc gốc để cung cấp cho nhu cầu phòng và chữa bệnh của cộng đồng. Chưa kể đến các lợi ích về kinh tế mà ngành sản xuất thuốc gốc bị thiệt hại, hệ quả ngay trước mắt là người dân và các bệnh nhân không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc trả một mức giá rất cao cho sản phẩm thuốc được bảo hộ sáng chế để bảo vệ sức khỏe và tính mạng của mình. Rõ ràng, các quy định về bảo hộ sáng chế trong TPP đã hạn chế đáng kể quyền tiếp cận thuốc của người dân đặc biệt là những bệnh nhân nghèo tại Việt Nam.

Một số đề xuất khắc phục những khó khăn của Việt Nam khi thực hiện bảo hộ các đối tượng mới

Đã từ lâu, trên cơ sở phù hợp với khả năng kinh tế và tiềm lực phát triển khoa học công nghệ của mình, các quốc gia luôn tìm kiếm một chính sách phù hợp nhằm cân bằng giữa việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và quyền tiếp cận thuốc của cộng đồng. Bằng Tuyên bố Doha 2001 về Hiệp định TRIPS và sức khỏe cộng đồng, tất cả các thành viên WTO, trong đó có các nước TPP đã ghi nhận tầm quan trọng, sự cần thiết và phù hợp đạo đức của việc áp dụng linh hoạt các quy định của TRIPS nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Trong quá trình đàm phán Hiệp định TPP, đoàn đàm phán chương sở hữu trí tuệ của Việt Nam đã bày tỏ quan điểm không chấp thuận các đề xuất liên quan đến việc tăng cường mức độ bảo hộ sáng chế. Trong Bản khuyến nghị chính sách của cộng đồng Doanh nghiệp Việt Nam về phương án đàm phán Chương sở hữu trí tuệ cũng như Thư kiến nghị về đàm phán Chương sở hữu trí tuệ của Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI), các doanh nghiệp, hợp tác xã, nhóm bệnh nhân,… trên toàn quốc đã đề nghị đoàn đàm phán cần kịch liệt bác bỏ những đề xuất tăng cường bảo hộ sáng chế, đặc biệt là các quy định mở rộng phạm vi đối tượng bảo hộ sáng chế như cách sử dụng mới của một sản phẩm đã biết, phương pháp sử dụng mới của một sản phẩm đã biết, hoặc quy trình sử dụng mới của một sản phẩm đã biết[5]. Tuy nhiên, như đã nói, các quy định trong Chương Sở hữu trí tuệ trong Hiệp định TPP là sự đánh đổi của Việt Nam để đạt được những lợi ích kinh tế và chính trị cấp bách trong các lĩnh vực thương mại và đầu tư.

Quy định tại Điều 18.37.2 Hiệp định TPP, vốn được dự đoán là sẽ tạo điều kiện cho việc thực hiện “evergreening” đối với sáng chế, là điểm mới trọng tâm của việc bảo hộ sáng chế theo TPP so với pháp luật hiện hành của Việt Nam. Trên thế giới, nhiều nước bao gồm Ấn Độ và Philipines coi “evergreening” là một biểu hiện của việc lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ và đã có những biên pháp hết sức quyết liệt để cấm hành vi này.[6] Vì vậy, trên cơ sở phù hợp với các cam kết trong TPP và vận dụng linh hoạt các điều khoản tùy nghi của Hiệp định TRIPS cũng như tinh thần của Tuyên bố Doha, Việt Nam cũng cần áp dụng một số biện pháp để bảo vệ sức khỏe cộng đồng và ngăn chặn việc lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ đặc biệt trong vấn đề bảo hộ sáng chế đối với dược phẩm.

  • Nới lỏng những điều kiện về chuyển giao quyền sử dụng sáng chế bắt buộc trong lĩnh vực dược phẩm.

Bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế, hay còn được gọi là li-xăng không tự nguyện sáng chế, là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép một bên không phải là chủ sở hữu sáng chế được phép sử dụng sáng chế đó mà không cần có sự đồng ý của chủ sở hữu sáng chế. Hiệp định TPP cho phép các bên có quyền đặt ra ngoại lệ đối với độc quyền được cấp cho chủ sở hữu sáng chế, cụ thể, Điều 18.40 Hiệp định TPP quy định:

Điều 18.40: Ngoại lệ

Mỗi Bên có thể thiết lập một số ngoại lệ đối với độc quyền cấp cho chủ sở hữu sáng chế, với điều kiện các ngoại lệ đó không xung đột quá mức với việc khai thác bình thường sáng chế và không gây phương hại một cách bất hợp lý đến lợi ích hợp pháp của các chủ sở hữu bằng sáng chế, có tính đến lợi ích hợp pháp của các bên thứ ba.”

Hiện nay, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam cũng đã quy định cụ thể các căn cứ bắt buộc chuyển giao sáng chế như: Sử dụng sáng chế nhằm mục đích công cộng, đảm bảo đáp ứng các nhu cầu cấp thiết của xã hội; Chủ sở hữu sáng chế không thực hiện nghĩa vụ sử dụng sáng chế hoặc thực hiện hành vi phản cạnh tranh;… Tuy nhiên, không phải trong bất cứ trường hợp nào cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng có đủ các căn cứ để thực hiện biện pháp bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế. Đồng thời người được chuyển giao quyền sử dụng sáng chế dược phẩm theo quyết định bắt buộc khi thực hiện sản xuất cũng bị hạn chế đáng kể về phạm vi sử dụng và quy mô sản xuất.

  • Tạo điều kiện cho việc nhập khẩu song song dược phẩm.

Nhập khẩu song song dược phẩm là việc nhập khẩu các sản phẩm thuốc được đưa ra thị trường nước ngoài một cách hợp pháp. Đối với Việt Nam, các sản phẩm thuốc tại thị trường nước ngoài, đặc biệt là các sản phẩm được sản xuất theo quyết định bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế, thường có giá thành rẻ hơn so với thuốc được sản xuất theo sự cho phép của chủ sở hữu sáng chế, ngay cả khi đã tính thuế nhập khẩu. Mặc dù tại thời điểm hiện tại, Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam đã cho phép nhập khẩu song song dược phẩm, tuy nhiên, các quy định có liên quan khác (ví dụ: Thuế, cấp phép lưu hành, quản lý giá thuốc,…) vẫn chưa được thuận lợi đến mức độ có thể khuyến khích thực hiện nhập khẩu song song thuốc. Bởi vậy, Việt Nam nên tạo điều kiện thuận lợi, bao gồm tạo hành lang pháp lý toàn diện cho các doanh nghiệp thực hiện việc nhập khẩu song song các loại dược phẩm.

  • Quy định cụ thể hành vi lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ như một hành vi phản cạnh tranh.

Luật cạnh tranh của Việt Nam tại thời điểm hiện tại chưa ghi nhận những hành vi lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là độc quyền sử dụng sáng chế như một hành vi gây phản cạnh tranh. Trên thực tế, độc quyền sáng chế mang lại một thế mạnh cạnh tranh vô cùng lớn cho chủ sở hữu. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp, pháp luật về sở hữu trí tuệ trao cho chủ sở hữu sáng chế những độc quyền trong một thời hạn nhất định. Thời hạn đó đã được nghiên cứu kỹ lưỡng trên cơ sở cân nhắc lợi ích các bên và ấn định sao cho cân bằng giữa việc đảm bảo quyền lợi chính đáng của chủ sở hữu và việc đảm bảo tính cạnh tranh lành mạnh giữa các chủ thể kinh doanh trên thị trường. Bất kỳ hành vi nào, bằng cách thức nào, cố tình kéo dài thời hạn đã được ấn định đó, đều phải bị coi là hành vi lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ và gây hạn chế cạnh tranh một đáng kể. Vì vậy, để đảm bảo một môi trường cạnh tranh lành mạnh cho thị trường dược phẩm, ngăn chặn các hành vi phản cạnh tranh, Việt Nam cần đưa vào pháp luật cạnh tranh của mình các quy định cụ thể về hành vi lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ.

  • Một số biện pháp dành cho các doanh nghiệp dược phẩm.

Việc khắc phục những khó khăn đối với thị trường dược phẩm khi các đối tượng mới được bảo hộ theo cam kết trong TPP đòi hỏi không chỉ sự thay đổi về chính sách và pháp luật từ phía nhà nước và các cơ quan chức năng mà còn đòi hỏi sự ỗ lực đổi mới và phát triển từ phía các doanh nghiệp dược phẩm. Để có thể tồn tại trước thế mạnh cạnh tranh của các công ty dược phẩm nước ngoài, các doanh nghiệp trong nước cần không ngừng cải tiến công nghệ, nâng cao năng lực về tài chính, đẩy mạnh đầu tư cho nghiên cứu và phát triển. Trước mắt, có thể các doanh nghiệp trong nước chưa thể tự mình nghiên cứu được các loại thuốc hoàn toàn mới, tuy nhiên, việc tìm ra công dụng mới, dạng bào chế mới hay cách thức sử dụng mới của một loại thuốc đã có là hoàn toàn có thể. Quyền đăng ký sáng chế đối với các đối tượng này không phải chỉ được trao cho chủ sở hữu sáng chế của sản phẩm đã biết, vì vậy, các doanh nghiệp trong nước, không cần tốn quá nhiều công sức cũng có thể dành được độc quyền đối với sáng chế chỉ bằng việc tìm ra những điểm mới rất nhỏ xung quanh sáng chế đó (invent around and patent fences). Khi đã có được một số độc quyền xung quanh sáng chế của các doanh nghiệp nước ngoài, các doanh nghiệp trong nước hoàn toàn có thế mạnh để đàm phán về việc cấp phép sử dụng sáng chế gốc, bao gồm một số hình thức như góp vốn bằng độc quyền sáng chế, cấp phép ngược, cấp phép chéo,…

Bằng các biện pháp cả về mặt pháp lý lẫn về mặt kinh tế, kỹ thuật đã nêu trên, hành vi “evergreening”, cố tình kéo dài một cách bất hợp lý thời hạn bảo hộ sáng chế, hoàn toàn có thể được hạn chế một cách đáng kể, khắc phục hiệu quả những khó khăn đối với việc sản xuất thuốc gốc và đẩy mạnh phân phối thuốc giá rẻ, đảm bảo quyền tiếp cận thuốc của người dân Việt Nam. Ngay cả trong trường hợp Hiệp định TPP không được thông qua và đưa vào vận hành, trên phương diện của Việt Nam, các biện pháp kể trên vẫn có tác dụng triệt để trong việc ngăn chặn hành vi lạm dụng độc quyền đối với sáng chế, góp phần bảo vệ quyền lợi công cộng, thúc đẩy cạnh tranh và phát triển khoa học công nghệ.

Kết luận

Tới thời điểm này, Hiệp định TPP đã được ký kết. Hiệp định được đánh giá sẽ nâng mức độ bảo hộ sáng chế tại Việt Nam, vốn đã cao, lên đến mức bất hợp lý, không phù hợp với khả năng và tình hình thực tế của Việt Nam. Vì vậy, dù Hiệp định có được thông qua và đưa vào vận hành hay không, Việt Nam cũng cần có những biện pháp để kéo cán cân giữa việc bảo hộ độc quyền sáng chế dược phẩm và lợi ích, sức khỏe cộng đồng, vốn đang và ngày càng nghiêng về phía bảo hộ độc quyền sáng chế, trở về vị trí cân bằng.

(Tác giả: Tiến sĩ Luật Lê Nết, Đặng Thị Thùy Linh – Công ty Luật LNT & Partners)

[1] Xem: Điều 4.12 và Điều 58 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009.

[2] Xem: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), “Khuyến nghị chính sách của Cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam về phương án đàm phán Hiệp định TPP – Chương Sở hữu trí tuệ”, tháng 7 năm 2012.

[3] Xem: Center for Drug Evaluation and Research, U.S. Food and Drug Administration, “Generic Drugs”, 2006.

[4] Xem: Ove Granstrand và Frank Tietze, “IP strategies and policies for and against evergreening”, tháng 4 năm 2015.

[5] Xem: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), “Khuyến nghị chính sách của Cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam về phương án đàm phán Hiệp định TPP – Chương Sở hữu trí tuệ”, tháng 7 năm 2012.

[6] Xem: Sushmita R., Christ Law College, “Evergreening: An abuse of the patent system” tháng 1 năm 2015.

Chuyên đề giải quyết tranh chấp xây dựng – Luật sư Lê Nết

Nội dung của Chuyên đề giải quyết tranh chấp xây dựng do Tiến sĩ Luật Lê Nết soạn thảo xoay quanh các vấn đề chính:

  1. HỢp đồng xây dựng theo Nghị định 37/ 2015
  2. Các loại tranh chấp trong xây dựng
  3. Nguyên nhân tranh chấp
  4. Giải pháp

Xem và tải bản đầy đủ tại Chuyên đề giải quyết tranh chấp xây dựng_LS. Lê Nết

#Construction #Dispute #Method #Insight #Legal

Young ICCA Arbitration – Ho Chi Minh, Vietnam

The special event – Young ICCA Arbitration will be occured on this 30 September 2016 at Hotel Novotel Saigon. There are 11 experts/ lawyers from regional well-known firms, such as: Baker & McKenzie, LNT & Partners, YKVN, Geneva, White & Case, VIAC (Vietnam International Arbitral Centre),….

Dr. Net Le is the representative of LNT & Partners to participate as a guest speaker to share about Arbitration in Vietnam.

56820460

Event details: http://www.arbitration-icca.org/…/YoungICCA_Vietnam_2016.ht…

Công tác bảo vệ môi trường: Lỗ hổng chính sách hay lỗ hổng thực thi?

Luật sư Trần Thái Bình

LNT & Partners

Xu thế hội nhập với toàn cầu là xu thế tất yếu của các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Thế nên, vừa trở thành thành viên của WTO không lâu, Việt Nam cũng gia nhập các hiệp định thương mại tự do quan trọng trong khu vực và quốc tế, như Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định tThương mại tự do EU – Việt Nam (EVFTA) và Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC). Việc hội nhập như thế mang đến cho Việt Nam nhiều cơ hội giao lưu thương mại, tận dụng nguồn vốn ngoại lực để phát triển kinh tế. Trong xu thế ấy, Việt Nam được nhiều đối tác chọn là điểm đặt cơ sở sản xuất trong chuỗi cung ứng toàn cầu của họ nhờ lợi thế nhân công, chính sách ưu đãi, và nhiều yếu tố khác mà các nước có nền công nghiệp phát triển không còn.

Nhà nước cũng cần xem xét chính sách thu hút đầu tư nước ngoài như thế nào để dần tuyển lựa các nhà đầu tư theo hướng đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ, công nghệ cao, công nghiệp nhẹ hay công nghiệp sạch. Cơ chế pháp lý bảo vệ môi trường của Việt Nam hiện tại Việt Nam ngay từ ban đầu thu hút đầu tư nước ngoài đã quan tâm đến yếu tố bảo vệ môi trường và thiết lập các qui định về bảo vệ môi trường chặt chẽ từ rất lâu. Về cơ bản, tầng thứ nhất để bảo vệ môi trường, là qui định tiên quyết đối với các nhà đầu tư trước khi đăng ký thực hiện dự án là phải thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với các dự án có nguy cơ ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường (theo danh mục dự án đầu tư cụ thể được ban hành kèm Nghị định 18/2015/NĐ-CP quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường). Báo cáo đánh giá bao gồm đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường. Chủ đầu tư dự án có thể tự mình hoặc thuê tổ chức có chức năng thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM). Trong quá trình thực hiện ĐTM, chủ dự án phải tiến hành tham vấn Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thực hiện dự án, các tổ chức và cộng đồng dân cư chịu tác động trực tiếp bởi dự án; nghiên cứu, tiếp thu những ý kiến khách quan, kiến nghị hợp lý của các đối tượng liên quan được tham vấn để hạn chế thấp nhất tác động bất lợi của dự án đến môi trường tự nhiên đa dạng sinh học và sức khỏe cộng đồng. Một tầng bảo vệ nữa là báo cáo ĐTM sau đó sẽ được thẩm định bởi hội đồng thẩm định chuyên môn cấp Bộ hay cấp sở chuyên ngành địa phương, tùy theo quy mô dự án. Hội đồng thẩm định có trách nhiệm xem xét nội dung báo cáo ĐTM và đưa ra ý kiến thẩm định để làm cơ sở cho cơ quan thẩm định xem xét, quyết định việc phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường. Quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường là căn cứ tiên quyết để xem xét cấp phép đầu tư cho dự án ấy.

Lại nữa, chủ dự án của một số dự án được quy định cụ thể phải lập hồ sơ báo cáo kết quả thực hiện các công trình bảo vệ môi trường liên quan trong báo cáo ĐTM để được kiểm tra, xem xét cấp giấy xác nhận trước khi vận hành dự án. Dự án chỉ được vận hành khi công trình bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành của dự án đã được xây dựng phù hợp với báo cáo đánh giá tác động môi trường được phê duyệt. Cuối cùng, cơ quan quản lý môi trường thẩm quyền, cảnh sát môi trường có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra, giám sát thường xuyên việc thực hiện của chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư để xem họ có thực hiện đúng phê duyệt báo cáo đánh giá bảo vệ môi trường hay không. Và những nhược điểm trong thi hành. Như vậy, có thể thấy về chính sách hay khung pháp lý về bảo vệ môi trường ở Việt Nam không hề lỏng lẻo, nhưng tại sao lại thường xảy ra các sự cố môi trường? Theo tôi, lý do chính là nằm ở khâu thực hiện. Thứ nhất, vì mục tiêu cục bộ cạnh tranh giữa các tỉnh để nhằm thu hút nhà đầu tư nhằm ghi điểm trong nhiệm kỳ của lãnh đạo, trong nhiều trường hợp, những dự án đầu tư được tuyên bố vốn đầu tư hàng tỉ đô-la thường làm lóa mắt hay làm ngất ngay các lãnh đạo các tỉnh nhà, và vì vậy đã chỉ thị tạo các điều kiện hết sức dễ dãi cho các nhà đầu tư này, lơ là trong các thủ tục thẩm định chặt chẽ. Các dự án được chấp thuận đầu tư nhanh chóng, các thủ tục thẩm định tác động môi trường thường làm qua quýt, đại khái cho gọi là đúng thủ tục, chứ chưa tuân thủ một cách nghiêm túc như theo qui định của pháp luật. Thứ hai, trong thủ tục xin cấp các chấp thuận phê duyệt về môi trường, nhà đầu tư thường có các đơn vị tư vấn môi trường, thường là các “sân sau” của các cán bộ ngành môi trường, và các bản báo cáo ĐTM sau đó cũng được các cán bộ này thụ lý thẩm định và chấp thuận, do đó không tránh khỏi “xung đột quyền lợi” trong thủ tục xem xét thẩm định và chấp thuận báo cáo ĐTM. Các báo cáo này vì thế cũng được chóng vánh thông qua.

ca-chet-hang-loat-1811-1652

(Ảnh minh họa)

Vì vậy, tầng bảo vệ thứ hai trong Luật BTMT là mặc dù chủ đầu tư là đơn vị lập báo cáo đánh giá tác động môi trường, nhưng cơ quan quản lý môi trường địa phương là đơn vị chịu trách nhiệm thẩm định lại và phê duyệt, thì với thực trạng hiện nay đã vô hiệu hóa cơ chế thẩm định của cơ quan thẩm quyền. Thứ ba, tầng thứ ba trong bảo vệ môi trường là hoạt động kiểm tra trước khi dự án vận hành chính thức, cơ quan thẩm quyền có trách nhiệm kiểm tra các điều kiện đáp ứng, tuân thủ của chủ đầu tư trong thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường, khắc phục sự cố môi trường trước khi cho phép chính thức đi vào hoạt động. Hoạt động này, trong thực tế, thường cũng được làm qua quýt hay đại khái, Formosa là một minh chứng rõ nhất. Thứ tư, là việc kiểm tra giám sát định kỳ thường xuyên của các cơ quan chức năng và có thẩm quyền trong suốt quá trình thực hiện dự án của chủ đầu tư nhằm phát hiện và ngăn chặn các vi phạm môi trường của chủ doanh nghiệp. Thực tế cho thấy, hoạt động này cũng không được thực thi nghiêm túc và thích đáng, chỉ đợi khi người dân có phàn nàn, báo cáo với chính quyền thì khi đó mới có kiểm tra, nhưng khi đó thì sự cố môi trường cũng đã xảy ra mất rồi, có khắc phục cũng chỉ là hạn chế phần tác hại mà thôi.

Kết luận

Tóm lại, theo tôi, khung pháp lý hiện tại về bảo vệ môi trường đã tương đối đủ để Nhà nước Việt Nam có thể thực thi tốt chính sách bảo vệ môi trường song song với việc phát triển kinh tế (dĩ nhiên, quá trình thực hiện Việt Nam cũng cần phải tham khảo, học hỏi để cập nhật và bổ sung cho hoàn thiện hơn). Khâu yếu nhất vẫn là khâu thực hiện, và nổi bật là sự buông lỏng của các cơ quan quản lý thẩm quyền về môi trường trong khâu giám sát tuân thủ. Doanh nghiệp thường có xu hướng nhằm tối ưu hóa lợi ích kinh tế của họ, tiết kiệm chi phí, nhất là chi phí bảo vệ môi trường. Không thể chỉ trông chờ tất cả vào sự tuân thủ của doanh nghiệp, chủ đầu tư. Cơ quan thẩm quyền phải có năng lực trong việc thực thi giám sát, ngăn chặn sự cố hay thảm họa môi trường, chứ một khi đã xảy ra, dù có khắc phục hay bồi thường đi nữa, cũng chỉ hạn chế phần nào thiệt hại trước mắt, di họa lâu dài cho các thế hệ về sau vẫn còn đó, và trách nhiệm rõ ràng của thế hệ đi trước đã không làm tròn.

#environment #protection #legal #hole #vietnam

Tài trợ học bổng cho sinh viên Luật hiếu học

Sau khi đọc bài “Năm nay Tôi sẽ đến trường” trên trang nhất Báo Tuổi trẻ 17.8.2016, Công ty Luật TNHH LNT & Thành viên (LNT & Partners) đã quyết định tài trợ toàn bộ học bổng toàn phần 4 năm Đại học cho bạn Hồ Thị Hà Giang, sinh viên khoa Luật kinh tế, Đại học Ngân Hàng, đồng thời tặng bạn cơ hội thực tập tại LNT & Partners.

Chúc bạn hoàn thành ước mơ của mình và quay lại giúp đỡ các bạn khó khăn khác khi đã thành tài.

Tham khảo: http://tuoitre.vn/…/ho-thi-ha-giang-nam-nay-to…/1156021.html

#Donation #University #Studens #Contribution #Legal #LNT

received_1167298796646984

Thảm họa chung cư và nước cờ “1 phát trúng 2 đích”

Thời gian qua nhiều chung cư tại Hà Nội và TP.HCM, đã bàn giao cho khách hàng trong tình trạng chưa hoàn thiện, hệ thống phòng cháy chữa cháy (PCCC) chưa được nghiệm thu. Chủ đầu tư vì quyền lợi riêng đã đẩy cư dân vào thế đối mặt nhiều rủi ro.

Cuối tháng 7 vừa qua, Hà Nội đã công bố danh sách 38 tòa nhà cao tầng không đủ điều kiện an toàn PCCC. Cá biệt trong đó có chung cư đã bàn giao và đi vào hoạt động gần 10 năm. Tại TP.HCM, chưa có thống kê chính thức, nhưng vụ cháy chung cư HQC Plaza mới bàn giao gần đây, cũng đã bắt đầu “lộ diện” những công trình mất an toàn, chưa nghiệm thu PCCC. Chung cư The Easter City (H.Bình Chánh), chung cư Trịnh Đình Thảo (Q.Tân Phú)… cũng đang bàn giao trong tình trạng ngổn ngang, mất an toàn PCCC.

20160823114626-chung-cu1

Chung cư HQC Plaza bốc cháy khi mới bàn giao

(Nguồn ảnh: Facebook: Hội Cư dân HQC Plaza)

 

Luật sư Trần Thái Bình, Công ty Luật LNT & Partners, cho biết, theo quy định của Luật Kinh doanh Bất động sản, Luật Nhà ở và Luật Xây dựng, việc bàn giao căn hộ cho người mua chỉ được thực hiện, khi đã hoàn thành việc nghiệm thu đưa vào sử dụng tòa nhà chung cư (trong đó có căn hộ) và và các công trình hạ tầng kỹ thuật (hệ thống PCCC, cung cấp điện, nước, thoát nước thải, thông tin liên lạc…) và hạ tầng xã hội (trường mẫu giáo, nhà cộng đồng…) phục vụ nhu cầu ở, nêu trong nội dung dự án được phê duyệt vào sử dụng.

Việc nghiệm thu như trên được thể hiện bằng biên bản nghiệm thu giữa chủ đầu tư, nhà thầu và tư vấn (nếu có). Đối với nhà chung cư cao từ 7 tầng trở lên, trước khi tiến hành nghiệm thu, chủ đầu tư phải thông báo, đề nghị Sở Xây dựng kiểm tra việc nghiệm thu và có văn bản chấp thuận việc nghiệm thu. Ngoài các điều kiện trên, chủ đầu tư và người mua có thể thỏa thuận thêm các điều kiện bàn giao khác trong hợp đồng mua bán (như điều kiện thanh toán đủ giá bán theo tiến độ, sai số trong diện tích căn hộ…).

20160823114626-chung-cu2

Kết cấu lộ cốt thép hoen rỉ tại chung cư The Easter City. 

(Nguồn ảnh: Facebook: Hội cư dân Easter City)

 

Luật sư Nguyễn Văn Trường, Trưởng văn phòng Luật sư Trường, phân tích thêm, theo quy định của Luật Kinh doanh Bất động sản, trước khi bàn giao căn hộ cho người mua, chủ đầu tư chỉ được thu không quá 70% giá bán (đối với chủ đầu tư là DN có vốn đầu tư nước ngoài thì tỷ lệ này là 50%). Sau khi bàn giao, chủ đầu tư được thu thêm đến tối đa 95% giá bán.

Do vậy, có thể vì nôn nóng muốn thu tiền bán căn hộ, nên một số chủ đầu tư đã yêu cầu người mua nhận bàn giao căn hộ mặc dù các điều kiện theo quy định chưa được đáp ứng. Trong các trường hợp như vậy, chủ đầu tư có thể bị xử phạt theo các quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng, phòng cháy chữa cháy, kinh doanh bất động sản. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà mức phạt có thể khác nhau.

Theo ông Trần Khánh Quang, Tổng giám đốc Công ty Việt An Hòa, việc bàn giao nhà sớm khi chưa đủ điều kiện sẽ kéo theo nhiều rủi ro cho khách hàng. Tuy nhiên, có nhiều lý do khiến chủ đầu tư ép khách hàng vào thế khó. Nhiều chủ đầu tư yếu tài chính muốn thu tiền nhanh để thanh toán công nợ và tránh được khoản lãi phạt chậm bàn giao cho khách hàng nếu chờ nghiệm thu. Đây là nước cờ “1 phát trúng 2 đích” của những doanh nghiệp thiếu uy tín.

Với thực trạng hiện nay, Luật sư Trần Thái Bình, Công ty Luật LNT & Partners khuyến cáo, đối với người mua căn hộ, khi tiến hành bàn giao, ngoài việc kiểm tra căn hộ thì còn cần phải kiểm tra mức độ hoàn thiện của các tiện ích, hạ tầng trong dự án. Người mua có quyền yêu cầu chủ đầu tư xuất trình biên bản nghiệm thu, chấp thuận nghiệm thu của cơ quan nhà nước để chứng minh. Trường hợp các điều kiện bàn giao chưa được đáp ứng thì có quyền từ chối nhận bàn giao. Nếu chủ đầu tư ép buộc bàn giao thì có thể thông báo và yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng (Sở xây dựng), phòng cháy chữa cháy (Cảnh sát PCCC) vào cuộc để bảo vệ quyền lợi của mình.

(Theo Vietnamnet)

#Legal #RealEstate #Housing #Safety #Transperancy #Vietnam #LNT

M&A Forum 2016

Dr. Nguyen Anh Tuan – Partner at LNT was speaking in the panel discussion of M&A Forum 2016 held by Vietnam Investment Review. He was sitting next to other speakers from foreign companies and Government representatives.

13883714_10210996503374502_395318407_n

Dr. Nguyen Anh Tuan – an expert in Antitrust/ Competition practice

The topic was regarding “M&A in wider economic boundaries”. This event earned a lot of media attentions such as: VTV, FBNC especially Bloomberg channel.

LNT & Partners is pleased to be a part of M&A Forum this year.

‪#‎Legal‬ ‪#‎MA‬ ‪#‎VIR‬ ‪#‎Forum‬ ‪#‎Vietnam‬ ‪#‎Acquisition‬

Other media: 

http://mavietnamforum.com/sukien/

https://www.talkvietnam.com/tag/nitil-jaiswal-from-bloomberg/

http://eventerbee.com/event/vietnam-ma-forum-2016,904791879630445

M&A DỰ ÁN BẤT ĐỘNG SẢN: MỘT SỐ CHÚ Ý CHO NGƯỜI MUA

Luật sư Trần Thái Bình

LNT & Partners

Trong hai năm gần đây, thị trường bất động sản đang chứng kiến sự tăng trưởng khá nóng, một số nhà đầu tư nước ngoài bắt đầu quay trở lại, và hoạt động M&A trong lĩnh vực bất động sản cũng diễn ra sôi động hơn. Một số nhà đầu tư trong nước, thông qua việc chuyển nhượng các dự án dở dang cho nhà đầu tư mới hay nhà đầu tư nước ngoài, đã tái cấu trúc để có thể tập trung vào những dự án trọng điểm.

Dưới góc nhìn của nhà đầu tư nước ngoài, đầu tư ở Việt Nam là một thách thức, và đầu tư trong lĩnh vực bất động sản lại càng nhiều thách thức hơn do các khác biệt về hệ thống pháp luật về đất đai và bất động sản, tập quán giao dịch cũng như những yếu tố khác.

Sau đây là một số chú ý cho bên mua (nhất là nhà đầu tư nước ngoài) trong các giao dịch mua bán nhận chuyển nhượng dự án bất động sản tại Việt Nam nhằm vượt qua các khác khó khăn nói trên:

Cấu trúc giao dịch

Việc chuyển nhượng dự án bất động sản hiện nay có thể thực hiện thông qua phương thức “chuyển nhượng dự án” (bên mua nhận chuyển nhượng dự án) hay “mua công ty” (bên mua mua lại cổ phần/phần vốn góp của bên bán trong công ty thực hiện dự án).  Luật Kinh doanh Bất động sản hiện nay đã cho phép việc chuyển nhượng một phần hay toàn bộ dự án. Đối với “chuyển nhượng dự án”, về nguyên tắc, bên chuyển nhượng phải hoàn tất việc đầu tư hạ tầng đối với phần chuyển nhượng thì mới thực hiện được việc chuyển nhượng. Việc đánh giá có hoàn tất việc đầu tư hạ tầng hay chưa đôi khi cũng là một thủ tục khó khăn và có phần chủ quan. Ngoài ra, nhà đầu tư nước ngoài cần có hiện diện pháp nhân theo Luật Việt Nam rồi mới sử dụng pháp nhân đó để nhận chuyển nhượng dự án. Những điều này khiến cho thủ tục để xin chấp thuận “chuyển nhượng dự án” đôi khi mất nhiều thời gian, và có khi mất đi cơ hội kinh doanh.

Do vậy, một cách nữa mà cũng đạt được mục tiêu là bên mua có thể nhận chuyển nhượng toàn bộ cổ phần hay phần vốn góp của bên bán trong công ty, mà đang là chủ đầu tư thực hiện dự án. Luật Đầu tư hiện nay có những qui định rõ ràng hơn trong việc nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần trong công ty Việt Nam, và nhà đầu tư có thể tiến hành mua thẳng cổ phần từ bên chuyển nhượng, phần vốn góp nên thực hiện thủ tục này trong một số trường hợp có phần thuận lợi.

Đối với bên mua, dĩ nhiên là chuộng thực hiện giao dịch “chuyển nhượng dự án” thay vì “mua công ty” nhưng thực tế, không phải lúc nào cũng có thể thực hiện được theo các mình mong muốn do các điều kiện pháp lý.

Kiểm tra soát xét doanh nghiệp hay dự án

Dù thực hiện theo phương thức nào thì thủ tục kiểm tra soát xét là không thể thiếu, đó là việc kiểm tra toàn bộ các yếu tố liên quan đến pháp lý và tài chính của dự án và của doanh nghiệp dự án. Việc kiểm tra soát xét thường nhằm vào các mục tiêu như tổng hợp lại các nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý và tài chính của bên bán đối với dự án, đối với doanh nghiệp là gì? Các rủi ro trong hoạt động doanh nghiệp đó, trong thực hiện dự án đó là gì? Dự án có khả năng bị rút giấy phép hay không? và các yếu tố có thể ảnh hưởng đến giá giao dịch.

Đối với các trách nhiệm pháp lý, cần xem xét tiến độ đạt được các chấp thuận, giấy phép đối với dự án đó như thế nào, ví dụ, đơn vị phát triển dự án đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với dự án đó hay chưa? hình thức sử dụng đất của dự án đó có phù hợp với mục tiêu để phát triển dự án hay không? các chấp thuận và giấy phép liên quan đến việc xây dựng là gì? việc tuân thủ pháp luật của đơn vị phát triển dự án trong quá trình thực hiện dự án và quá trình vận hành doanh nghiệp như thế nào? v.v.

Đối với các trách nhiệm tài chính, cần đánh giá việc thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước hay với bên thứ ba của đơn vị thực hiện dự án đối với đối với khu đất dự án, những quyền lợi của bên thứ ba đối với khu đất và doanh nghiệp, những hạn chế của quyền sử dụng khu đất dự án, tài sản doanh nghiệp, các khoản nợ hay trách nhiệm tài chính hiện có của doanh nghiệp, các cam kết mà doanh nghiệp cần phải thực hiện v.v.

real_estate

Ảnh minh họa

Thỏa thuận về điều kiện và điều khoản giao dịch   

Dựa trên các phát hiện từ việc kiểm tra và soát xét đối với dự án và/hoặc đối với doanh nghiệp, bên mua cần xác định các điều kiện tiên quyết cho giao dịch, hay để hoàn thành giao dịch. Theo đó, bên bán cần phải hoàn thành những điều kiện gì thì giao dịch mới được thực hiện hay hoàn thành. Việc đặt ra các điều kiện như vậy đòi hỏi cần có kỹ năng và sự đánh giá tốt, sao cho các điều kiện như vậy là cần thiết và đủ, tránh khó khăn và xung đột trong thương lượng mà có thể dẫn đến hủy bỏ giao dịch của bên bán do cho rằng bên mua không có thiện chí trong thực hiện giao dịch.

Thông thường, những nhà đầu tư nước ngoài thường quen những tài liệu hợp đồng dài hàng chục, thậm chí hàng trăm trang, nhưng đối với các doanh nghiệp trong nước thì ngược lại. Đôi khi, một hợp đồng dài và nhiều điều khoản không cần thiết cũng có thể dẫn đến việc hủy bỏ giao dịch do phải thương lượng trên quá nhiều điều khoản (mà đôi khi thực sự không cần thiết), dẫn đến nhiều sự lo lắng, nghi ngờ từ bên bán. Hệ thống pháp luật “thông luật” (common law) có những tiền lệ thành luật, nên những điều khoản của hợp đồng cũng dựa trên đó. Tuy nhiên, áp dụng những điều khoản như vậy một cái máy móc vào các giao dịch tại Việt Nam, đôi khi vừa không có giá trị pháp lý thực tiễn mà lại gây khó khăn trong việc thỏa thuận giữa các bên.

 Hoàn tất giao dịch

Bên mua cần thỏa thuận lịch thanh toán sao cho phù hợp với việc hoàn tất giao dịch. Tập quán tại Việt Nam, bên bán thường yêu cầu bên mua phải “đặt cọc” một khoản tiền nhằm bảo đảm thực hiện giao dịch, trong khi bên mua thường nghi ngại trước khi có thể hiểu rõ bên bán và các trách nhiệm pháp lý/tài chính trong giao dịch đó. Do vậy, cách thức thường dùng là sử dụng một ngân hàng làm bên trung gian quản lý tiền ký quỹ. Theo đó, hai bên thỏa thuận ngân hàng sẽ giải ngân khoản thanh toán căn cứ theo mức độ hoàn tất các điều kiện của bên bán. Do vậy, việc thỏa thuận về thanh toán cũng cần hết sức chặt chẻ và cần có sự am hiểu địa phương trong việc đánh giá hoàn tất nhằm phòng rủi ro cho bên mua.

Đối với giao dịch theo hình thức “mua công ty”, bên mua cần thiết giữ thanh toán sau với một tỉ lệ nào đó nếu phát hiện phải thực hiện các nghĩa vụ hay trách nhiệm tài chính liên quan đến doanh nghiệp, hay đến dự án bất động sản, trong khi bên bán Việt Nam thường mong muốn rằng họ được thu tiền hết sau khi đã bàn giao dự án cho bên mua. Việc thỏa thuận như thế cũng không phải dễ dàng trong thực tiễn.

Đối với bên mua là nhà đầu tư nước ngoài, bên mua cũng cần chú ý đến việc tuân thủ các qui định và yêu cầu về quản lý ngoại hối của Việt Nam. Cụ thể, bên mua yêu cầu doanh nghiệp dự án cần mở tài khoản vốn đầu tư trực tiếp và thực hiện việc thanh toán thông qua đó. Điều này bảo đảm cho nhà đầu tư nước ngoài trong các thủ tục rút vốn về sau. Ngoài ra, bên mua cũng cần yêu cầu bên bán cung cấp các chứng từ về nộp thuế thu nhập từ chuyển nhượng nhằm cho việc lưu trữ và xuất trình cho các cơ quan quản lý về sau, tuy rằng nghĩa vụ này là nghĩa vụ của bên bán đi chăng nữa.

Một trong các bước để hoàn tất giao dịch là phải đăng ký với cơ quan quản lý Nhà nước đối với việc chuyển nhượng, theo đó nhà đầu tư nước ngoài phải xin các chấp thuận đầu tư từ cơ quan quản lý sở tại đối với giao dịch chuyển nhượng liên quan đến dự án bất động sản, và nhà đầu tư sẽ được cấp một chứng nhận đăng ký đầu tư.

Tuy giao dịch hoàn tất, nhưng một số cam kết hay bảo đảm của bên bán vẫn còn có hiệu lực. Giả sự sau khi tiếp nhận dự án, bên mua mới phát hiện ra những đảm bảo hay cam kết như vậy là không đúng và không được tuân thủ đúng thì sao? Bên mua cũng cần lường trước để có những biện pháp bảo đảm cho mình, như áp dụng quyền bán lại hay quyền đòi bồi thường chẳng hạn. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm thực tế của chúng tôi, đến tình trạng đó thì khả năng tranh chấp của hai bên hầu như chắc chắn xảy ra do bên bán thường không chịu mua lại. Do vậy, bên mua cũng cần đánh giá rủi ro này để tính vào chi phí giao dịch.

Một số vấn đề khác

Một điều không thể thiếu là các bên cũng cần thỏa thuận về cơ chế để giải quyết xung đột hay tranh chấp trong quá trình giao dịch, và nếu không thể giải quyết, thì cơ quan tài phán có thẩm quyền. Theo pháp luật Việt Nam, đối với tranh chấp thương mại, thì các bên có quyền lựa chọn trọng tài hay tòa án làm cơ quan giải quyết. Trong thực tiễn, các bên trong giao dịch thường chọn trọng tài hơn vì thủ tục giải quyết nhanh gọn hơn, xét xử bí mật, và ngoài ra phán quyết của cơ quan trọng tài cũng có hiệu lực thi hành như bản án của tòa án, tuy rằng án phí trọng tài sẽ cao hơn án phí tòa án.

Bên mua cũng cần lưu ý trong việc bàn giao lại chứng từ dự án, quyền kiểm soát hay vận hành công ty. Thực tiễn cũng cho thấy một số bên mua khi tiếp nhận quyền vận hành công ty rồi mới nhận ra việc thiếu hụt tài liệu, có thể dẫn đến khó khăn trong việc hoạt động của doanh nghiệp.

Ngoài ra, trong một số trường hợp, bên bán có thể hứa hẹn là có khả năng xin điều chỉnh các chỉ số quy hoạch, xây dựng của dự án, mà bên mua thường mong đợi là cao hơn (với lợi ích tài chính sẽ nhiều hơn). Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp việc điều chỉnh như vậy là không thể được do qui hoạch tổng thể của khu vực cũng như những qui định về xây dựng kiến trúc. Nhà đầu tư nước ngoài cần lưu tâm điều này.

(VietnamLawInsight)

#Legal #Insight #RealEstate #Merge #Acquisition #Projects #Vietnam

REAL ESTATE PROJECTS M&A: SOME NOTES FOR BUYERS

Mr. Tran Thai BinhPartner 

LNT & Partners

The real estate market in Vietnam has seen a quite lot of growth in the last two years, with foreign investors returning, and many busy M&A transactions in real estate.  Some local developers have sought to transfer their incomplete projects in order to do internal re-structuring for better growth.

For foreign investors, investing in Vietnam is challenging, especially in real estate investment due to differences in the legal framework for land and real estate, as well as transaction practices and other factors.

Below are some notes for property project buyers (especially foreign buyers) to overcome challenges in acquiring real estate projects in Vietnam.

Deal Structure

Acquiring a real estate project may be done one of two ways: by a “project transfer deal” where the project is transferred to the buyer, or through a “share transfer deal” where the buyer would acquire the shares held by the sellers in the company that owns the real estate project. The Law on Real Estate Business now allows for a partial or whole of transfer of the real estate project. With regards to the “the project transfer deal”, under the applicable law, the transferor is required to complete their project infrastructure development as a condition precedent for transferring the project. The assessment of the completion of infrastructure development is a lengthy process and somewhat subjective. It may be time consuming to get the getting necessary approvals for a project transfer, and many business opportunities may pass by in the mean time.

Therefore, another way for the parties to get to the desired outcome is for the buyer to acquire all shares and/or equity held by the sellers in the company that owns the real estate project. The Law on Investment now sets out a clear legal framework to allow foreign buyers to acquire shares or equity in local companies. Accordingly, a foreign buyer may directly acquire shares or equity from the sellers. This approach is more favorable for acquisition in certain cases.

 Buyers often prefer to use a “project transfer deal” rather a “shares transfer deal”. However, things are not always as accessible in reality due to legal limitations and restrictions.

Due Diligence of the project company or the real estate project

Either way, a due diligence report, which is a process of checking and finding out any legal and financial issues of the project and project company (or the developer), is always essential. The due diligence process is designed to find out any legal or financial liabilities that the sellers may have with respect to the real estate project and/or of the developers. The process vets any risks in the business operation of the developer or with implementing the project, the possibility of licenses being revoked, as well as any other factors that mayimpact on the transaction.

As for legal liabilities, the buyer is required to review all approvals, permits or licenses for the project, for example: the issuance of the land use rights certificate, the suitability of the land use purpose for the development of the project, licenses and permits relating to the designs and construction of the project, the developer’s legal compliance in implementing the project and/or in corporate operations, and so on.

As for financial liabilities, the buyer needs to review the performance of all financial obligations to the Government and/or to third parties by the developer with respect to land use rights, rights of third parties in the land use rights and/or the company, encumbrances to the land use rights and/or the project and/or the company’s assets, current liabilities or debts by the developer, as well as undertakings and commitments by the developer, and so on.

real_estate

Illustrating image

Negotiations on the terms and conditions of the deal

Based on the findings from the due diligence report of the project and/or the project company, the buyer needs to define the conditions precedent for entering into or completing the transaction. Setting such conditions requires skill and tact in order to limit them to a reasonable but sufficient extent. This helps to avoid difficulties and controversies in negotiations that may become deal-breakers to the sellers feelings of distrust from the buyers.

Foreign buyers are usually familiar with using lengthy agreements that are tens or hundreds of pages long, but not with local sellers. Therefore, a lengthy agreement with unnecessary terms or clauses may lead to an end of the transaction due to long negotiations (which may sometimes be unnecessary), as well as concerns from the sellers. The agreement may use precedents from the common-law system. However, a simple copy of the terms and conditions of the transaction documents for deals in Vietnam is sometimes not only legally impractical, but can also cause difficulties to the parties when completing the deal.

Deal Closing

The buyers need to agree on a payment schedule that is proper for closing the deal. In practice, the seller usually requests the buyer to deposit an amount to secure the buyers’ performance of the deal. The buyer may have concerns on legal and financial liabilities arising from the deal due to inadequate awareness by the sellers. Therefore, a bank will be engaged as an agent to manage the deposit amounts. The parties may agree on the release of payment by the bank upon the seller’s fulfillment of certain conditions. Therefore, an agreement on payment must also be strict, and requires a local insight on the assessment of the closing to mitigate the buyers’ risks.

As for the “share transfer deal”, the buyer will want to hold a reasonable retention amount to cover obligations or financial liabilities of the enterprise or of the project, and the seller usually wants to receive all payments upon the transfer of the project to the buyer. In practice, it is not so easy for the parties to reach such an agreement.

When buyers are foreign investors, attention should also be paid to Vietnamese regulations and requirements on foreign exchange controls. Specifically, the buyer should require the project company to open a direct investment capital account through which the payments can be made. This will ensure the investor’s capital withdrawal at a later stage. Although it is the seller’s obligation, the buyers should request for documentation of the seller’s income tax fulfillment for filing and submitting to the authority later.

Completing the deal requires registration with the authority. As such, foreign investors must apply for approval from the competent authority for the transfer deal with respect to real estate projects, and will be granted M&A approval.

Regardless of the closing of the deal, some seller’s representations and warranties still live on. What if the buyers, after taking-over of the project, discover these representations and warranties are inaccurate or noncompliant? This issue should be foreseen by the buyers to ensure that security measurements (e.g. right to sell back or or claim for damages) are in place.

Other issues

It is necessary for the parties to agree on a legal regime to settle disputes or conflicts arising during the deal, and in case of failure, on the competent jurisdiction. According to Vietnamese commercial law, the parties may choose either the court or arbitration for settlement. In practice, the parties often prefer arbitration due to its simple and non-public procedures.  Arbitration awards are as binding and enforceable as a court decision, even though arbitration fees are higher than that of a court’s.

The buyer must pay attention to the handover of project documents as well as to the rights to control and run the company. Some buyers, after taking over the company, have faced difficulties in operating the company due to a lack of corporate documentation.

Sellers may also have promises to favor the buyers’ financial interest in the acquisition such as possible adjustment of the planning and construction criteria. However, in some cases, such adjustments are impossible due to the requirements of the master plan. Foreign investors therefore, should pay attention to these requirements.

 (VietnamLawInsight)

#Legal #Insight #RealEstate #Merge #Acquisition #Projects #Vietnam

VIETNAM CAPITAL MARKET AND PROJECT FINANCE: Its Structure and Future

Feel free to download the PDF for your ease of reference: VIETNAM CAPITAL MARKET AND PROJECT FINANCE

Dr. Le Net, LNT & Partners

Although Vietnam’s capital markets were established more than twenty years ago, the participation of Vietnam-based law firms i the markets, both locally and internationally, is still rare. The main reasons for this have been the standardization of the State Securities Committee (SSC), the dominance of state capital, and strict foreign exchange controls.  The central new Government, formed in 2016, declared this year to be the “Enterprise Year” and issued many changes to laws and regulations to help make Vietnam become of the top four most open markets in ASEAN. The Government also accelerated its privatization plan (so-called “equalization”) and reduced interference from official development assistance (ODA) with project financing, as well as with recent legal reforms. The time for Vietnamese lawyers in capital markets and project finance is forthcoming.

  1. CAPITAL MARKET STANDARDIZATION AND EQUALIZATION

The Law on Securities (LOS) governs Vietnam’s debt market for bonds, and the equity market for shares of public companies – joint stock companies (JSC) that have more than 100 shareholders. The largest trading volume in the Ho Chi Minh City Stock Exchange (HOSE) and the Hanoi Stock Exchange (HNX) is from Government bonds, which are invested by financial institutions with very rare involvement from law firms. Shares are traded by listed companies, whose IPO’s are prepared by securities companies rather than law firms, unlike in other countries. Corporate bonds and project bonds are still rare, although recently, there have been a number of offshore bonds available on the market.

The role of law firms is mainly for either IP offshore or pre-IPO onshore dealings between strategic partners with a target state owned enterprise (SOE) before equalization has taken place. So far, only leading international law firms or the top three local law firms have been eligible to participate in this narrow market.

Under the LOS, a public company must be registered at the SSC and its shares must be deposited at the Vietnam Securities Depository (VSD). Acquisitions gaining more than 25% of their total shares will be subject to a mandatory public offering (MPO). Almost all state owned enterprises (SOE) going through equalization will become public companies. In reality, many of the equitized SOEs are not registered with the SSC, and therefore, neither the MPO nor the UPCoM apply to them. To facilitate M&As in those companies, certain complex and often unprecedented restructuring models are required, and leading local law firms are proven to be more adept at this, as local laws are complicated and require practical solutions to overcome them.

Another point to note is that selling state shares in equitized SOEs must be done through the HOSE or the HNX, although information on the target company and its valuation is not always transparent. Certain foreign investment funds are willing to take risks investing in equitized companies as such opportunities rarely exist. Many of them can later transfer to Japanese, Thai or Korean conglomerates, with assistance from top law firms that gain innovative lawyers through the Financial Times or deal firm of the year by IFLR, Chambers, or ALB Thomson Reuters. It is expected that  M&As in public or equitized SOEs will be on the rise as those law firms gain more experience on M&A restructuring and legal due diligence with large SOEs.

Apart from the Vietnam debt and equity market, offshore IPOs are on the rise, as the SSC now provides guidelines for investment and offshore listings.  Other areas that Vietnam needs to develop are in high yield products, securitization, debt structuring, and trusts.  Some good news is that, for the first time, the new Civil Code 2015 introduced the concept of “hưởng dụng” – usus fructus that are similar to trusts. Similarly, the Enterprise Law 2014 also reduces conditions to issue bonds or derivatives, making securisation more feasible.

  1. FOREIGN EXCHANGE CONTROL

Vietnam’s economic growth was 6.8 percent in 2015, based on two engines: export and a growth of middle income consumers among its young 90 million person population. Due to strong exports, the Vietnamese Dong currency has proven to be resilient despite the devaluation of the Chinese Reminbi. The State Bank of Vietnam (SBV) also issued new regulations allowing enterprises to invest or lend abroad. However,  obtaining offshore investment registration certificates (OIRC) is still a challenge for Vietnamese entities. Recently, Saigon Coop lost its 1 billion EUR Big C bid because of delays in obtaining an OIRC, and the strict foreign exchange controls for offshore lending or using foreign exchange to fund onshore projects.  To overcome these regulations, local investors may either need to contact foreign or local lenders in order to deposit foreign currency abroad. More deregulations are expected to ease capital inflow and outflow.

  1. PRIVATE PROJECT FINANCE REPLACING STATE CAPITAL AND ODA FUNDING

The second trend in Vietnamese financial services law firms is the sophistication of project finance. Some top local law firms have been involved in highly regarded transactions such as: the funding of Haiphong International Container Terminal (HICT), the M&A of the Big Co supermarket system, the development of mega thermal power plants, offshore oil rigs for Petro Vietnam, or aircraft finance for VietJet Air to acquire 100 aircrafts from Airbus and now Boeing. In those projects, the security comes second to project feasibility, and the risk of non-completion is now recognized as a major issue facing lenders or bond investors. To address these risks, financial service lawyers must be skillful not only with the  Asia Pacific Lenders Master Agreement (APLMA) loan structure but also with  focusing commercial expertise on construction contracts, as well as delays and cost overruns to counter the non-completion risks present in project finance. In addition, lawyers need to assist clients to obtain extra incentives and support to guarantee cash flow from the project.

For state support projects, investors often request the government’s guarantee. Nowadays the Government often refuses to provide guarantees, after its anticipated debt caused by the guarantee under the Nghi Son Oil Refinery project.  Lawyers need to find other means to support clients such as through incentives and investment protections rather than through direct financial supports from the State.

Until recently, Vietnam still relies on state capital and ODA funding for its industrialization and infrastructure development. However, as the public debt is reaches 80% of the GDP, SOEs becoming inefficient, and the country’s growth rate still high, the Government is expected to equitize its public sector and focus on enhancing infrastructure for the private sector, including with foreign investors. Changes in the Civil Code, Civil Procedural Code, Enterprise Law, Investment Law, and the Decree on Private Public Partnership (PPP) are some major examples. This policy shift will no doubt create more room for large law firms to develop their financial service sectors to meet the ever demanding growth for their clients.

(VietnamLawInsight)

For further information/ insights, please contact:

Dr. Le Net, email: Net.Le@LNTpartners.com

Công khai thông tin để bảo vệ người mua nhà

Hiện nay người mua nhà muốn kiểm chứng thông tin do chủ đầu tư đưa ra rất khó, làm sao xác minh thông tin, gõ cửa cơ quan nào ?

Các chuyên gia bất động sản thường khuyên người mua nhà nên tỉnh táo tìm hiểu thông tin để tránh rủi ro. Nhưng trong trường hợp thị trường không có nhiều thông tin minh bạch, dù người mua đã cẩn thận hết sức cũng có thể mua nhầm nhà trong các dự án không đàng hoàng…

Không có vùng cấm trong việc cung cấp thông tin về dự án. Hiện Văn phòng đăng ký đất đai TP cung cấp thông tin bằng văn bản cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu.
Ông Phạm Ngọc Liên 
(giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai TP)

Đó là chia sẻ của nhiều cư dân chung cư trong buổi tọa đàm “Minh bạch thông tin dự án nhà ở” do báo Tuổi Trẻ tổ chức ngày 4-8, với sự đồng hành của Tập đoàn Novaland.

Thông tin mù mờ, người mua chịu thiệt

Ông Nguyễn Quốc Tuấn, trưởng ban quản trị chung cư Rubyland (Q.Tân Phú, TP.HCM), kể ông mua nhà từ năm 2006. Khi mua, ông đã tìm hiểu từ nhiều nguồn, thậm chí còn đến Phòng tài nguyên – môi trường Q.Tân Phú hỏi. Khi biết dự án “sạch” rồi ông mới quyết định mua nhà.

Thế nhưng khi về ở rồi ông mới biết giấy đỏ của dự án đang bị thế chấp ngân hàng, dự án xây dựng sai phạm. Và đến giờ người dân ở chung cư này không thể gặp được chủ đầu tư để hỏi về tiến độ trả nợ cho ngân hàng hay làm giấy chủ quyền căn hộ cho dân.

Tương tự, ông Phạm Hoàng Hải, người dân ở chung cư Tân Hương (Q.Tân Phú), chia sẻ ông mua căn hộ ở đây từ cuối năm 2013. Giờ mới hay dự án bị thế chấp!

“Lúc tôi đi mua căn hộ, tìm hiểu thông tin từ môi giới, từ trang tin điện tử của chủ đầu tư nhưng các nguồn này đều không có thông tin dự án thế chấp ngân hàng. Đến khi bán nhà xong, chủ đầu tư đem thế chấp thì chúng tôi không 
thể biết” – ông Hải kể.

Ông Lê Hoàng Châu, chủ tịch Hiệp hội Bất động sản TP.HCM (HOREA), cho rằng những dự án lôm côm làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân thời gian qua là những dự án bán nhà trước khi Luật nhà ở 2014 có hiệu lực.

Luật nhà ở 2014 đã có những quy định bịt kín các lỗ hổng này như: quy định về minh bạch thông tin, sở xây dựng địa phương xác định dự án đủ điều kiện bán nhà, quy định về việc ngân 
hàng bảo lãnh cho dự án…

Luật sư Trần Thái Bình, Đoàn luật sư TP.HCM, cho biết pháp luật hiện nay đã quy định chặt chẽ để bảo vệ người mua nhà. Nhưng thực tế vẫn còn chưa suôn sẻ lắm. Ví dụ như người mua nhà muốn kiểm chứng thông tin do chủ đầu tư đưa ra rất khó, làm sao xác minh thông tin, gõ cửa cơ quan nào…

bat-dong-san

(Hình ảnh minh họa)

Nhiều người mua nhà biết quy định nhưng không phải lúc nào họ cũng nhận được thông tin rõ ràng. Hiện nay, người mua nhà trong các dự án cần đòi hỏi những văn bản như xác nhận của sở xây dựng địa phương về việc dự án đủ điều kiện kinh doanh, chứng thư bảo lãnh của ngân hàng cho dự án và người dân nên kiểm tra thông tin từ văn phòng đăng ký đất đai tỉnh, thành về 
việc đăng ký thế chấp.

Cần xây dựng hệ thống thông tin có thu phí

Luật sư Bình cho biết ở nhiều nước trên thế giới có những trung tâm cung cấp thông tin ban đầu của các bất động sản có thu phí người sử dụng như chủ sở hữu là ai, tình trạng pháp lý như thế nào, có bị thế chấp hay không…

Hệ thống các trung tâm này hoạt động rất hiệu quả với thông tin đáng tin cậy, rõ ràng. Ở Việt Nam dù luật đã quy định về việc xây dựng hệ thống thông tin như trên, nhưng đến nay vẫn chưa thấy có.

Ở góc độ chủ đầu tư, ông Lê Hùng Mạnh, tổng giám đốc Công ty BĐS Gia Hòa, ủng hộ việc công bố thông tin vừa qua và đặt vấn đề: tới đây Sở TN – MT TP có công bố tất cả các dự án đang thế chấp hay không, bao lâu nữa sẽ công bố lần hai và có “chấm điểm”, phân loại các dự án thế chấp với mục đích gì hay không?

Ông Phạm Ngọc Liên, giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai TP (Sở TN – MT TP), cho rằng không có vùng cấm trong việc cung cấp thông tin.

Tuy nhiên theo ông Liên, hiện nay thông tin thế chấp có ở Văn phòng đăng ký đất đai TP chưa đầy đủ, rõ ràng và thông tin về dự án nằm rải rác ở nhiều sở, ngành của TP. Ông Liên đề xuất: “Cần có một đầu mối cung cấp thông tin. Và việc công bố có thể thu phí để bù vào chi phí nhân sự”.

Trả lời góp ý của luật sư Bình, ông Phan Trường Sơn, trưởng Phòng quản lý nhà và thị trường bất động sản Sở Xây dựng TP, chia sẻ phải công khai thông tin để thị trường bất động sản phát triển tốt hơn và đảm bảo quyền lợi, nghĩa vụ của khách hàng.

Nhiều năm trước, Bộ Xây dựng đã khởi động xây dựng hệ thống dữ liệu để tiến tới thành lập hệ thống thông tin thị trường bất động sản như những thị trường tiên tiến, hoàn thiện khác trên thế giới. Tuy nhiên, việc thực hiện gặp khó khăn vì cơ sở dữ liệu quá nhiều.

Sẽ công bố thông tin về các dự án đã giải chấp

Theo ông Lê Hoàng Châu, trong 77 dự án mà Sở Tài nguyên – môi trường TP đã công bố, chỉ có 67 dự án do chủ đầu tư thế chấp ngân hàng. Còn lại có 9 dự án do những tổ chức, cá nhân mua căn hộ hoặc một phần diện tích của dự án rồi đem thế chấp ngân hàng.

Cụ thể đó là các dự án khu Masteri, chung cư cao cấp Homyland 2, dự án The Vista (quận 2), dự án Phú Mỹ Hưng, cao ốc Docklands Sài Gòn (quận 7), chung cư Saigonland, Central Park, dự án Saigon Pearl giai đoạn 3, SSG Tower Văn Thánh (Bình Thạnh). Và dự án chung cư Him Lam Riverside lô A3 (Q.7) đã được chủ đầu tư giải 
chấp vào ngày 16-7.

Ông Phạm Ngọc Liên cho biết đến cuối tuần này, Văn phòng đăng ký đất đai TP sẽ công bố lại những thông tin về các dự án đã giải chấp trong danh sách đã công bố.

(Báo Tuổi Trẻ online)